Cổng thông tin điện tử tỉnh thanh hóa

Thành phố Sầm Sơn

SẦM SƠN DI TÍCH - DANH THẮNG VÀ LỄ HỘI

Đăng ngày 17 - 10 - 2011
100%

SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HOÁ VÀ DANH LAM, THẮNG CẢNH THỊ XÃ SẦM SƠN. Thị xã Sầm Sơn có diện tích 18 km2 với 17 Di tích – Danh lam được phân bố đều ở 5 xã phường.

 
1. Đền Độc cước :
Nằm trên hòn Cổ Giải thuộc Núi Trường Lệ, Phường Trường Sơn. Thờ vị Thần Một Chân (Độc Cước) đã có công tự xẻ đôi thân mình, dẹp loài Thuỷ Quái, bảo vệ cuộc sống bình yên cho Dân chài Sầm Sơn, được nhân dân phụng thờ 4 mùa cúng tế. Nơi đây còn là nơi diễn ra Lễ hội truyền thống Bánh Chưng – Bánh Dày hàng năm vào ngày 12 tháng 5 âm lịch. Di tích đã được Bộ Văn hoá TT xếp hạng năm 1962.
2. Đền Cô Tiên:
Nằm trên một vị thế khá đẹp, thoáng đãng phía Nam núi Trường Lệ. Truyền thuyết xưa kể rằng: Ngôi đền này thờ một người con gái làm nghề thuốc cứu nhân độ thế. Cô gái vì không vâng lời cha lấy một kẻ nhà giàu nên bị cha đuổi đi. Sau đó cô đem lòng yêu và lấy Anh chàng nghèo khó mà tốt bụng tên là Côi. Cuộc sống đang êm ả thì
                        
                  Đền Cô Tiên - Thị xã Sầm Sơn                         
Nàng bị bệnh hủi, rồi một cụ già xuất hiện đã chạy chữa bằng thuốc lá nam và nước suối lấy từ Vụng Tiên. Cô gái khỏi bệnh, Bà cụ ra đi để lại cho vợ chồng họ một tay nải để che mưa và một giỏ mây để đựng thuốc lá cứu người.
Một lần, hai vợ chồng đi chữa bệnh về khuya gặp trời mưa to, nhớ lời Bà cụ dặn lấy tay nải ra che mưa, rồi thiếp đi lúc nào không biết. Sáng dậy, hai vợ chồng thấy mình đang ngồi trong một ngôi nhà 3 gian khang trang, sạch sẽ. Từ đó họ ở lại ngôi nhà, hái lá nam chữa bệnh cho mọi người trong vùng. Một buổi sáng đẹp trời cả hai vợ chồng ăn mặc rất đẹp, dắt tay nhau đi lên đỉnh núi rồi không thấy trở về. Từ đó ngôi nhà được trở thành đền Cô Tiên được dân làng khói hương quét dọn. Ngôi đền vinh dự được Bác Hồ về thăm và nghỉ chân năm 1960. Sau nhiều lần sửa chữa nhỏ, cuối năm 2010, UBND Thị xã Sầm Sơn đã quyết định đầu tư trùng tu, tôn tạo và đã nhiều lần trùng tu, sửa chữa. Là Di tích được Bộ Văn hoá - TT xếp hạng năm 1962.
3. Đền Tô Hiến Thành:
Nằm khiêm tốn ở sườn núi phía Đông Bắc dãy Trường Lệ thuộc Phường Trường Sơn thờ Thái uý Tô Hiến Thành, một vị tướng giỏi, một ông quan thanh liêm, cương trực thời Lý. Di tích đã được Bộ Văn hoá - TT xếp hạng năm 1962
4. Hòn Trống Mái:
Đây là một Danh thắng nổi tiếng của Sầm Sơn nói riêng và của Tỉnh Thanh Hoá nói chung. Tạo hoá đã ban tặng cho Sầm Sơn một bức tranh tuyệt đẹp, một câu chuyện bi tình sử với mối tình thuỷ chung, sống chết bên nhau của cặp vợ chồng trẻ sau đại nạn Hồng thuỷ, để Bầy Tiên du ngoạn nơi trần gian phải động lòng cảm phục cho hoá thành đôi Chim Đá để ngày ngày quấn quýt bên nhau trên núi cao không bao giờ chịu cảnh lũ lụt nữa . Danh thắng được bộ văn hoá xếp hạng cùng Đền Độc Cước, Cô Tiên và Đền Tô Hiến Thành
5. Đền Hoàng Minh Tự: (Hay còn gọi là Đền Đệ Tam )
Đền Hoàng Minh Tự thuộc Khu phố Sơn Thuỷ – Phường Trường sơn. Là Di tích năm trong tổng thể khu Di tích hết sức có giá trị về mặt lịch sử của Phường Trường Sơn nói riêng và của Thị xã Sầm Sơn nói chung. Nhân dân trong làng vẫn thường gọi là Đền Hạ (Theo vị trí địa lý Đền Độc Cước là Đền Thượng, Đền Tô Hiến Thành là Đền Trung)
Ngôi đền thờ vị Nhân Thần Hoàng Minh Tự - Đỗ quan Hoàng Giáp. Là biểu tượng cho sự học hành đỗ đạt. Đền được Sở Văn hoá - TT Thanh Hoá công nhận là Di Tích lịch sử văn hoá năm 2005.
6. Chùa Khải Minh:
Là ngôi chùa cổ được khôi phục lại (1994) có quy mô lớn nhất trong hệ thống thờ Phật ở Sầm Sơn, chùa có hàng chục pho tượng cổ đẹp, khánh đá to đẹp và chuông đồng có cữ “ Đông Khê áp chung”. Chùa Khải Minh nay thuộc Khu phố Bình Sơn Phường Bắc Sơn. Được Sở Văn hoá - TT Thanh Hoá công nhận là Di tích Lịch sử Văn hoá năm 1994
 
 7. Chùa Làng Lương Trung (Hay còn gọi là Thanh Am Tự )
Nằm ở khu phố Long sơn thuộc Phường Bắc sơn. Đây cũng là một ngôi chùa được khôi phục lại qua thời gian bị phá dỡ. Là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân trong vùng. Có 2 hệ thống tín ngưỡng chính là thờ Thần (Thần Hoàng Làng) và thờ Phật. Di tích đã được Sở Văn hoá - TT Thanh Hoá Công nhận là Di tích Lịch sử Văn hoá năm 1999
8. Đền Đề Lĩnh (Thuộc địa bàn Phường Trung sơn)
Đây là ngôi đền thờ Thần Hoàng làng Lương Trung: Đường Công Quang Lộc, là Tứ trụ triều đình thời vua Lê Tương Dực (1510 – 1515) có công khai dân, lập ấp nên Làng Lương Trung trong lịch sử. Được nhân dân tôn thờ cúng tế và suy tôn là ông tổ của Lò võ vật Lương Trung. Vào dịp ngày giỗ Thần 16 tháng giêng, nơi đây diễn ra lễ hội truyền thống với các hoạt động văn hoá mang tính giáo dục cho nhiều thế hệ. Di tích được Sở Văn hoá - TT Thanh hoá cấp bằng công nhận năm 1995
 9. Đền thờ Bà Triều:
Thuộc Làng Triều Dương cũ, nay là khu phố Xuân Phú và Vĩnh Thành, Phường Trung Sơn. Đây là ngôi đền thờ vọng Bà Triều; Tổ sư nghề dệt săm súc, là một loại phương tiện đánh bắt tôm, moi, hải sản của nhân dân Sầm Sơn. Hàng năm diễn ra Lễ hội truyền thống vào ngày 10 tháng 2 âm lịch. Di tích được Sở Văn hoá và Thông tin Thanh Hoá công nhận là Di tích danh thắng cấp Tỉnh năm 1995.
10. Đền Cá Lập: ( Hay còn gọi là Đền Làng Trấp )
Thuộc Phường Quảng Tiến, thờ Tướng quân Trần Đức có nhiều công trạng trong công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm thời Trần. Được vua ban chức sắc Quan Chánh lãnh binh; Trà lệnh hầu. Được các triều đại Phong kiến Việt Nam truy phong là: Tây Phương Đại Tướng Quân. Được nhân dân trong vùng phong Thần Hoàng Làng Chấp. Đây là Di tích được Bộ Văn hoá xếp hạng Quốc gia năm 1999. Đến nay Đền mới được trùng tu, tôn tạo khá quy mô.
11. Đền làng Lộc Trung ( Thuộc Phường Quảng Tiến )
Đây cũng là ngôi đền được khôi phục lại cách đây trên vài chục năm, sau những phế tích còn lại những năm xưa. Thờ Tướng quân Nguyễn Sỹ Dũng lập nhiều công trạng trong cuộc kháng chiến giữ nước thời Vua Quang Trung – Nguyễn Huệ. Lễ hội hàng năm cũng vào ngày mồng 5 tết âm lịch, nhân dân trong vùng tổ chức để tỏ lòng ngưỡng mộ, nhớ ơn Ngài và giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau. Ngôi đền đã được Sở Văn hoá - TT công nhận là Di tích lịch sử Văn hoá năm 1993
12. Đền Làng Hới
Ngôi đền nằm cạnh Cảng Hới, Phường Quảng Tiến. Là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh vùng biển Sầm Sơn nói chung và của nhân dân Làng Hới nói riêng. Hàng năm nơi đây diễn ra Lễ hội bơi chãi truyền thống, để tranh tài các tay đua thuyền trên sông biển. Đây cũng là nơi hội tụ của chủ tàu thuyền đánh bắt hải sản đến thắp hương, cầu cúng trước và sau khi ra khơi, vào lộng. Di tích được Sở Văn hoá - TT xếp hạng năm 1993.
13. Đền Bà Triều.
Được người xưa dựng trên đất Làng Chấp, nay thuộc Thôn Công Vinh, xã Quảng Cư (Trước đây Đền được tọa lạc trên Làng Triều ngoài), nay thuộc thôn Tiến Lợi, do sụt lở sông ngòi, Đền được cha, ông di dời đến địa điểm ngày nay). Ngôi Đền thờ Bà Triều; Tổ Sư của nghề dệt săm súc, một phương tiện đánh bắt tôm, moi, hải sản của vùng Sầm Sơn. Đây là một làng nghề truyền thống đang được khôi phục và phát triển tại thôn Tiến Lợi, nơi Bà đã truyền nghề cho con cháu muôn đời. Lễ hội truyền thống vào ngày 10 tháng 2 âm lịch, với các hoạt động Văn hoá - TT cùng các lễ nghi như: Rước kiệu, tế lễ...
Đền Bà Triều đã được Sở Văn hoá - TT Thanh hoá công nhận là Di tích lịch sử Văn hoá năm 1993 và mới được nhân dân trùng tu – tôn tạo năm 2004.
 14.Đền Thanh Khê ( Hay còn gọi là Đền Làng vạn ) thuộc xã Quảng Cư
Đây là một ngôi đền cổ có kiến trúc còn tương đối nguyên vẹn với những nét chạm trổ tinh xảo và nhiều hiện vật quý hiếm được thờ trong đền. Theo Thần phả và Sắc phong để lại thì Đền Thanh Khê thờ Tứ vị Thánh Nương (Cung cấm – Hữu cung); Tam toà Đại Vương (Cung Đệ Nhị) và Đông sát Hải phi vượng Tướng quân (Cung Đệ Tam). Hàng năm cứ đến ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch, nhân dân trong vùng tổ chức lễ hội truyền thống. Di tích đã được Sở Văn hoá - TT Thanh Hoá công nhận năm 1994.
15. Đền thờ Phủ Đô Hàu (Trương Đức Dong)
Đền nằm trên đất Thôn Thành Thái xã Quảng Cư. Đây là một ngôi Đền có quy mô đền thờ nhỏ, kiến trúc chưa có gì đặc sắc. Địa phương đang có kế hoạch trùng tu, tôn tạo quy mô hơn. Di tích đã được Sở Văn hoá - TT Công nhận năm 1993.
16. Đền thờ Ngư Ông . (Thuộc phường Quảng Tiến )
Đền thờ Cá Ông (Ông voi); Một tín ngưỡng vùng biển rất được nhiều nơi ven biển thờ cúng, đặc biệt những gia đình sống bằng nghề chài lưới, sông nước. Là Di tích lịch sử Văn hoá, được Sở văn hoá - TT Thanh Hoá công nhận năm 2004.
 
 
 
17. Đền thờ Họ Trần:
Đây là ngôi đền thờ tướng quân Trần Uy Đức, ông đã dũng cảm hy sinh bảo vệ Thái sư Trần Quang Khải; được phong tước Trà Lệnh Hầu, quan chánh Lãnh Bỉnh triều Trần. Đền được xây dựng từ thế kỷ thứ XVIII, tại Làng Cá Lập, phường Quảng Tiến; được trùng tu tôn tạo nhỏ vào năm 1905. Đền đã được Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh Hóa ra quyết định xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa ngày 25 tháng 12 năm 2007.
 

           Sầm Sơn – Huyền thoại

         
          Từ Thành phố Thanh Hoá đi dọc theo đường quốc lộ 47 về phía đông, trước mắt chúng ta hiện dần một dãy núi xám sẫm, chênh chếch hướng Đông Nam, luôn biến hoá thành nhiều hình thù kỳ ảo, khi uốn lượn như làn sóng, lúc hòn cao, hòn thấp, nhấp nhô, tầng tầng, lớp lớp và cuối cùng là một pho tượng vĩ đại, tầm vóc còn lớn hơn cả Bà Nữ Oa thần hiện lên. Đó là núi Trường Lệ giống hình dáng một người phụ nữ, với những nét cong mềm mại, nằm ngửa mặt nhìn lên vòm trời xanh cao lông lộng.
Chuyện kể rằng: Vào thuở mới sinh ra loài người, có một người phụ nữ bụng mang dạ chửa bị trận đại hồng thuỷ cuốn trôi ra cửa biển, rồi dạt vào bờ, Bà nằm lại đây nguyện làm con đê chắn sóng. Cảm phục và thương xót trước tấm lòng cao cả của Bà, nhân dân trong vùng rủ nhau đem đất đá đắp lên thi hài Bà thành dáng núi Trường Lệ ngày nay.
Có thuyết lại kể rằng: Từ trong bụng mẹ bước ra một cậu bé khôi ngô tuấn tú, lớn nhanh như thổi, sức khoẻ phi thường, ngày ngày thương mẹ, cậu cùng nhân dân nhặt đất đá đắp lên thi hài mẹ để nấm mồ lớn dần thành núi Trường Lệ. Cậu bé đó trưởng thành như một chàng trai khổng lồ, dũng cảm xẻ đôi thân mình cùng nhân dân làng chài đánh tan loài quỷ biển, về sau trở thành Thần Độc Cước, được nhân dân xây đền thờ phụng, hương khói 4 mùa..
             Trường Lệ là dãy núi dài, đẹp. Đứng ở trung tâm Thị xã nhìn lên chúng ta thấy dãy núi chập chùng đỉnh cao, ngọn thấp: Sầm Sơn phong cảnh hữu tình. Hòn kèo cao nhất, Hòn ngành thứ hai. Thứ ba Hòn núi Phù Thai.Thứ tư Cổ Dải – Năm ngoài Đầu Voi”
             Hòn ở đây theo cách nói của người địa phương nghĩa là ngọn núi. Mỗi hòn núi mang một dáng dấp, vẻ đẹp riêng, cho ta một bức tranh toàn thể, cao, dài bát ngát. Bài thơ của ông Nghè Khuyến (Người Nghĩa Trang – Hoằng Hoá) đoạn đầu đã viết:
“Khà khà ! khéo đúc cảnh thiên nhiên
Thú vị Sầm Sơn tựa chốn Tiên
Sóng vỗ phấp phô phun bọt nước
Đá chồng khấp khểnh tựa toà sen.
Sớm ra kẻ dạo, lao xao chợ,
Chiều lại người đua, thấp thoáng thuyền.
Cuộc rượu Sầm Sơn vui vẻ quá,
Khà khà! khéo đúc cảnh thiên nhiên…”
        Một nhà thơ khuyết danh khác cũng từng viết:
                   “ Bể rộng ai đào để đắp non,
                   Vết chân Độc Cước tới nay còn.
                   Lô nhô sườn núi nhà thưa mái
                   Khấp khểnh chân mây, đá mấy hòn”.
Dẫu không có giá trị nhiều về tư tưởng, nhưng đã phản ánh được vẻ đẹp hoàn toàn tự nhiên của núi Trường Lệ mà không phải nơi nào cũng có. Mỗi hòn núi, mỗi bờ khe tự nó có thể kể cho chúng ta một sự tích, một huyền thoại, hay ít nhất với hình dáng kỳ lạ, nó gợi mở cho chúng ta trí tưởng tượng của người du ngoạn cất cánh, bay bổng.       
           
 
 Truyền thuyết:
            “Thần Độc Cước”
 
           Thuở xưa, xưa lắm, ngoài biển khơi có một loài Quỷ đỏ rất thích ăn thịt người; Dân chúng kể rằng: Loài Quỷ này mình tròn trùng trục, mõm dài vêu vao, răng nhọn hoắt, miệng đỏ lòm; dân chài ra khơi đánh cá thường bị chúng bắt ăn tươi nuốt sống... không đi biển thì cả nhà đói khát, mà đi thì khó thoát khỏi nanh vuốt loài Quỷ biển, họ đành phải mò ngao, bắt con tôm, con ốc nơi cửa sông, ven bờ để sống lần hồi cho qua ngày đoạn tháng.
Nhưng lũ Quỷ nào chịu để yên, chúng khát mồi, mò vào tận đất liền, hàng loạt người dân vô tội, không kể đàn ông, đàn bà, trẻ em... tóm được người nào chúng ăn thịt ngay người đó. Xóm làng dần dần trở nên vắng ngắt, ruộng vườn, nhà cửa xơ xác hoang tàn.
Hồi bấy giờ, một chú bé mồ côi vừa chui ra khỏi bụng mẹ đã biết chạy nhảy và lớn nhanh như thổi (Theo truyền thuyết thì đây là con của Mẹ núi); Hột lúa lớn bằng người ôm, trấy cà con bằng người gánh vẫn không đủ nuôi chú bé. Được đất trời phù hộ, chẳng bao lâu chú bé đã trở thành một chàng trai cao lớn dị kỳ. Chàng đứng trên ngọn núi cất tiếng hú vang, dân làng lâu nay phiêu bạt tận đầu sông cuối rừng đều lục đục kéo nhau về. Họ cất lại nhà, sửa sang vườn tược, đàn ông theo chàng khổng lồ ra khơi đánh cá, đàn bà ở nhà chăn nuôi, trồng trọt, cuộc sống của họ chẳng mấy chốc lại no đủ, bình yên.
Có Chàng trai cùng dân làng ra khơi đánh cá loài Quỷ đỏ không làm gì được, hễ con nào lăm le thì lập tức bị băm vằm, xương tan thịt nát dưới lưỡi búa sắc như nước và sáng loáng của chàng.
...Nhưng loài Quỷ biển tinh quái, thừa cơ hội hôm chàng khổng lồ cùng thanh niên trai tráng trong làng ra khơi đánh cá, chúng lẻn vào bờ cướp phá, nhiều người già, phụ nữ, trẻ em bị chúng bắt ăn thịt. Hôm sau, chàng khổng lồ ở lại nhà với những người sống sót, thì ngoài khơi các bạn chài lại bị chúng lật thuyền vây bắt. Căm giận loài Quỷ biển đến tím ruột bầm gan, yêu xóm chài, thương dân lành vô tội, Chàng quyết chí phải diệt hết loài Quỷ dữ để dân chúng được bình yên khi đi biển, lúc trên bờ. Chàng cầu xin Mẹ Núi cho sức mạnh để tiêu diệt loài thuỷ quái rồi dùng búa tự xẻ đôi thân mình. Lưỡi búa chia Chàng làm đôi nhưng lạ kỳ thay hai nửa thân Chàng vẫn khoẻ mạnh, quắc thước, dũng khí lạ thường. Một nửa thân Chàng theo dân chài ngày ngày ra khơi đánh cá, còn một nửa đứng trên đầu núi canh giữ cho xóm làng lúc nào cũng được bình yên.
Từ đó vùng biển Sầm Thôn sóng lặng, gió yên, dân lành vui cảnh “Chồng chài, vợ lưới, con câu”, không còn phải lo nạn Quỹ đỏ tàn hại nữa. Nửa thân Chàng khổng Lồ đứng mãi trên đầu núi, bàn chân hằn sâu vào đá, lưu lại dấu tích mãi muôn đời. Về sau Ngọc Hoàng hay tin hạ giới có Chàng trai dũng cảm xẻ đôi thân mình gìn giữ cho xóm làng dân chúng được hạnh phúc bình an. Vào một ngày trời quang mây tạnh, Người phái Thiên sứ cưỡi mây xuống núi đón Chàng về trời. Người phong Thần, phong Thánh cho Chàng với tên gọi là “Thần Độc Cước”.
Câu chuyện trên phản ánh sức vóc vĩ đại của tổ tiên ta, nói lên ước mơ kì diệu của người xưa trong công cuộc đấu tranh chống thiên tai ác liệt, đồng thời ca ngợi một tấm gương chói lọi xả thân bảo vệ nhân dân, bảo vệ quê hương đất nước, biển trời. Đền Độc Cước ngày nay là do nhiều thế hệ cha ông chúng ta xây nên để thờ Thần Độc Cước, và để nhân dân Sầm Sơn cùng du khách bốn phương quanh năm được hương khói, phụng thờ, vãn cảnh... 
           
 
     Sự Tích:Bà Triều
 
     Đã lâu và lâu lắm ở Sầm Sơn chưa có nghề ngư. Người dân chỉ kiếm sống bằng cách đi ven biển tìm bắt những con còng, con trai chứ ít khi bắt được cá tôm vốn rất nhiều ở dưới biển.
     Một ngày nọ biển động sóng to, gió lớn khiến không một ai dám ra khỏi nhà, nhưng trên bãi biển vẫn có một bà già đầu bạc, lưng còng đang lần bước cố chống chọi lại với bão tố phũ phàng. Bà cụ khó thoát khỏi cái lưỡi khổng lồ của sóng thần đang chuẩn bị ập tới. Nhưng rồi có một cô gái không chịu nổi cảnh sắp xảy ra, nên đã liều mình lao tới cõng bà cụ chạy vào nơi an toàn. Từ đó bà cụ sống với cô gái, thương nhau như hai mẹ con vì cô gái cũng không còn ai nương tựa.
            Một già, một trẻ tựa vào nhau kiếm ăn trên bãi biển ngày ngày, có một điều thật lạ, từ ngày ở chung với nhau cuộc sống của họ khấm khá hẳn lên. Làng xóm đồn rằng cô gái ấy được bà cụ trao cho một vật báu có thể đánh bắt được cá tôm theo ý muốn. Người làng dò hỏi, nhưng ai nấy đều ngạc nhiên khi thấy cô đưa ra một tấm lưới gai se rất săn, được đan thành những chéo đều và dày, không ai tin mành lưới đơn sơ ấy đánh được tôm cá. Mọi ngưới đều cho rằng mẹ con bà không thật bụng đã lừa dối dân làng, nên buộc họ phải dời đi nơi khác. Mẹ con người đàn bà nọ phải sang phía Bắc Lạch Trào ở vì họ không thể nào sống xa biển được. Ngày họ ra đi không có ai đưa tiễn, nhưng có nhiều chàng trai để thương, để nhớ trong lòng. Họ thầm yêu cô gái nhưng không dám cưỡng lại lệ làng. Trong số những trai làng đem lòng cảm mến cô gái, có một chàng trai yêu cô da diết, anh giấu kín tình cảm không thổ lộ với ai, đêm đêm lẳng lặng vượt Lạch Trào đến với người thương.
     Cuộc sống của họ cứ trôi đi trong nỗi buồn vời vợi, cô gái chỉ biết khuây khoả với những chéo lưới mà mẹ nuôi bày cho xe đan hàng ngày. Còn chàng trai làm bất cứ công việc gì để trái tim dịu bớt nỗi đau. Nhờ có lưới của họ mà dần dần dân mạn Bắc Lạch Trào đánh bắt cá dễ dàng hơn. Cuộc sống ở đó ngày càng giầu có, đông đúc...
     Trong khi ấy, bên Sầm Sơn người dân vẫn sống vất vả. Cũng cái cảnh bắt ốc, nhặt trai, bắt sứa...qua ngày. Người Sầm Sơn bèn khấn cầu Thần Độc Cước, nhờ Thần bày cho cách làm ăn. Độc Cước báo mộng cho dân làng: “ Ta chỉ là Thần giúp dân giữ yên bờ cõi, bà cụ mà các người đuổi đi mới là Thần giúp dân làm nghề sinh sống, các người đã xử sự sai với cụ thì phải biết tu sửa lấy mình”.
     Cộng đồng Sầm Sơn định cử một số trai tráng vượt sông sang tạ lỗi và đón mẹ con bà về bên này; Chàng trai – người yêu của cô gái đã đứng ra xin cộng đồng đảm nhiệm công việc. Bà cụ vẫn có ý giận...Nhưng vì thương con gái nên cuối cùng thuận tình trở lại Sầm Sơn khiến cho tất cả đều vui mừng. Nhưng khi mọi người đã đặt chân lên đất Sầm Sơn thì ai nấy đều ngơ ngác không thấy cụ già đâu. Nhìn ra khơi xa họ chỉ thấy thấp thoáng một mái tóc bạc trắng đang dập dềnh trên sóng biển. Bà cụ đã đến hạn về trời.
     May thay cô gái đã được mẹ truyền nghề nên từ đó người Sầm Sơn mới học được cách đan lưới, đó là nghề dệt săm súc đánh moi. Dân Sầm Sơn làm ăn phát đạt, thịnh vượng dần, dân cư ngày càng đông đúc.
     Cộng đồng Sầm Sơn hình thành một nếp sống mới. Hàng ngày trong từng gia đình, người chồng đi biển thả lưới, quăng chài, người vợ ở nhà vá lưới, dệt súc, chế biến tôm cá. Biết ơn cụ già, dân làng lập một ngôi nghè ở ngay mảnh đất nơi bà cụ đã ra đi. Đó là nghè Triều Dương – Nghĩa là thuỷ triều buổi sáng – ý muốn nói tới sự phong quang, tốt đẹp của vùng biển này.
     Không ai biết tên bà cụ, người ta gọi bà là Bà Triều. Những tấm lưới của Bà Triều dệt nên không chỉ để đánh bắt tôm cá, mà nó còn dệt nên tình yêu, hạnh phúc của bao nhiêu chàng trai và cô gái. Bà Triều chính là Tổ sư của nghề dệt săm súc đánh moi, nghề cổ truyền của dân biển Sầm Sơn.

 

<

Tin mới nhất

SẦM SƠN DI TÍCH - DANH THẮNG VÀ LỄ HỘI(17/10/2011 10:40 SA)

SẦM SƠN VỚI CÁC LỄ HỘI(17/10/2011 10:40 SA)