Đánh giá của bạn về cổng thông tin điện tử
134 người đã bình chọn
2509 người đang online

THỊ UỶ - HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN - UỶ BAN NHÂN DÂN - UB MTTQ THỊ XÃ SẦM SƠN

100%

THỊ XÃ SẦM SƠN
 
 30 NĂM XÂY DỰNG & PHÁT TRIỂN
 

 
  
 
 
 
 
 
                                           Sầm Sơn vào mùa du lịch                                    
       ( Ảnh trải dài trên hai trang )
 
 
 
 
 
 
THỊ XÃ SẦM SƠN
 
30 NĂM XÂY DỰNG & PHÁT TRIỂN
  
Kỷ niệm 30 năm ngày thành lập thị xã Sầm Sơn
( 1981 – 2011 )
               
 
 
       Lễ hội Cầu phúc thị xã Sầm Sơn năm 2010
 
 
 
 
Bác Hồ tắm biển Sầm Sơn  Ngày 17 / 07/ 1960 
 
 
    “...Sầm Sơn phải tận dụng lợi thế của mình để phát triển du lịch mà thu lấy tiền...”
 
                    ( Trích lời Hồ Chủ Tịch )                                    
 
 
DANH HIỆU ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN
THỜI KỲ CHỐNG PHÁP
 
 
Quyết định số : 566/QĐ-CTN, ngày 08/11/2000
của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
 
 
 
HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG BA
 
 
 
 
 
Quyết định số : 574/QĐ-CTN, ngày 07/8/2001
của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
 

VINH DỰ TỰ HÀO ĐÓN NHẬN PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ

CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TẶNG THƯỞNG
NHÂN DÂN, CÁN BỘ THỊ XÃ SẦM SƠN
  
HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG NHÌ 

               Quyết định số : 987/QĐ-CTN, ngày 09/7/2010
                   của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
 

 

 Công trình Khách sạn Sầm Sơn ( Dự án tập đoàn Viettel )

Khu Ressorf Vạn Chài Quảng Cư - Sầm Sơn

Bể bơi Khu Ressorf Vạn Chài  Quảng Cư - Sầm Sơn

 

PHẦN MỘT
 SẦM SƠN – VÙNG ĐẤT

CON NGƯỜI

Chủ tịch UBND tỉnh Mai Văn Ninh  đánh trống khai trương Mùa DL 2008

Bãi tắm A thị xã Sầm Sơn

 

THỊ XÃ SẦM SƠN
30 NĂM XÂY DỰNG & PHÁT TRIỂN
 
 
                                                                                 Đ/c Võ Duy Sang
                                                              Tỉnh ủy viên – Bí thư Thị ủy Sầm Sơn
 
Sầm Sơn! Vùng đất có núi, sông, ruộng đồng, biển cả. Cảnh sắc như một bức tranh thiên nhiên hài hòa, giàu tiềm năng lợi thế; gắn liền những di tích – danh thắng đậm tính nhân văn, với truyền thống lịch sử - văn hóa lâu đời; từ lâu đã trở thành một trung tâm du lịch nổi tiếng, hấp dẫn du khách bốn phương và bạn bè quốc tế.
Cách Thành phố Thanh hoá 16 km về phía đông, Sầm Sơn nằm ở toạ độ từ 19 – 20 độ vĩ Bắc; 104 – 105 độ kinh Đông; phía Bắc giáp bờ Nam Sông Mã; Phía Tây giáp Huyện Quảng Xương (cách con Sông Đơ); Phía đông giáp biển Đông.
            Với diện tích tự nhiên xấp xỉ 18 km2, đất Sầm Sơn chạy dài theo 9 km bờ biển; Phía Nam có dãy núi Trường Lệ rộng khoảng 300 ha, đây là dãy núi đá hoa Cương Diệp Thạch, được hình thành cách nay trên 300 triệu năm, vách đứng về phía biển, núi được phủ xanh bởi những cánh rừng thông, bạch đàn, cây keo lá chàm và nhiều loại cây bạt ngàn bóng mát. Quá trình tạo sơn đã để lại nhiều đỉnh cao, ngọn thấp, những Hòn Cổ Giải, ngọn Đầu Voi, hòn Trống Mái, cùng những vườn đá đẹp huyền ảo, gắn với những truyền thuyết, những huyền thoại say đắm lòng người. Nối liền dãy núi Trường Lệ về phía Bắc, hơn 5 km bờ biển còn lại nơi nào cũng có thể là bãi tắm, với bờ cát mịn, bãi biển rộng, thoai thoải và sạch sẽ, làn nước biển luôn trong xanh, có nhiệt độ trung bình từ 25 – 27oc vào mùa hè, 20oc vào mùa đông, nồng độ muối vừa phải, chứa nhiều khoáng chất rất tốt cho tắm biển , nghỉ dưỡng và chữa bệnh …
        Qua nghiên cứu các tài liệu lịch sử khai thác vùng đồng bằng Thanh Hoá chúng ta thấy rằng: Sầm Sơn là một vùng đất cổ, là kết quả bầu tụ của biển, núi và rừng. Ban đầu Sầm Sơn chỉ là những cồn cát nóng bỏng trưa hè, heo hút những ngày đông, bên cạnh những dải trũng sắc nước bốn mùa trong xanh, còn nguyên vị mặn của thời biển khơi chưa bồi lấp. Cách đây 2 – 3 ngàn năm, con người đã định cư tại đây để chăn nuôi cấy lúa, trồng màu, khai thác hải sản, chinh phục đồng bằng và biển cả ... và ngay cả cái tên Sầm Sơn, mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX mới thấy xuất hiện trên các tài liệu chữ viết và trong kho từ vựng của nhân dân.
         Ngày 15 tháng 9 năm 1904 Toàn quyền Đông Dương đã ra Nghị định cấp một số lô đất tại Sầm Sơn để xây dựng các đài quan sát, trạm y tế và trung tâm nghỉ dưỡng, phục hồi sức khoẻ tại bãi biển và ven núi Trường Lệ.
           Năm 1906 người Pháp cho xây dựng tuyến đường bộ dài 16 km nối Tỉnh lỵ Thanh Hoá với Sầm Sơn. Đến năm 1907 các công trình xây dựng mới bắt đầu và những năm sau đó nhiều Vi la biệt thự được xây dựng trên núi Trường Lệ, đó là khu vực Sầm Sơn cao (Sầm sơn Lehaut), chủ yếu để các quan chức người Pháp, quan lại Triều Nguyễn và giới thượng lưu, quý tộc về thăm quan, tắm biển và nghỉ dưỡng. Ở khu vực Sầm Sơn thấp (Sầm sơn Lebas), cũng có những khách sạn, cửa hàng của các thương nhân người Việt dành cho khách nội địa. Về sau do chiến tranh tàn phá, số Vi La, Biệt thự trên núi không còn. Nhưng đây chính là thời điểm khởi đầu để du lịch Sầm sơn hình thành và phát triển.
            Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, vùng đất Sầm Sơn thuộc tổng Giặc Thượng (Tên nôm), sau đó đổi tên là Kính Thượng, rồi Cung thượng và được gọi là vùng Tam xã bát thôn (Ba xã, tám thôn); Bao gồm: Xã Lương Niệm có 4 thôn là: Sầm Thôn (Tên nôm là Làng núi), Lương Trung (Làng giữa), Cá Lập (Làng trấp), Hải Thôn (Làng hới); Xã Triều Thanh Lộc có 3 thôn: ThônTriều Dương (Tên nôm là Làng triều ), Thanh Khê (Làng vạn), Lộc Trung (Làng trung ); Xã Bình Tân (Còn gọi là Hải Lộc ) có một thôn là Bình Tân (Tên nôm gọi là Làng Bến ). Sau Cách mạng tháng tám , vùng đất Sầm Sơn được đặt tên mới là xã Lương Niệm, thuộc huyện Quảng Xương – Thanh Hoá. Từ tháng 6 năm 1946 đến tháng 11 năm 1947 Sầm Sơn được chia làm 2 xã: Sầm Sơn và Bắc Sơn. Tháng 11 năm 1947 sáp nhập 2 xã Sầm Sơn và Bắc Sơn thành xã Quảng Tiến, thuộc huyện Quảng Xương. Tháng 6 năm 1954 xã Quảng Tiến được chia thành 4 xã đó là: Quảng Tiến, Quảng cư, Quảng Tường và Quảng Sơn. Ngày 19 tháng 4 năm 1963 Chính phủ ra Quyết định số 50/CP thành lập Thị trấn Sầm Sơn bao gồm: Khu nghỉ mát Sầm Sơn và xã Quảng Sơn, trực thuộc uỷ ban hành chính Tỉnh Thanh Hoá .
Trong 2 cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và chống Mỹ ,Đảng bộ và nhân dân Thị trấn Sầm Sơn cùng các Đảng bộ và nhân dân khu vực Sầm Sơn đã anh dũng kiên cường, bám biển, bám làng vừa sản xuất, vừa chiến đấu bảo vệ quê hương. Những năm tháng đó, quân và dân khu vực Sầm Sơn đã trực tiếp tham gia chiến đấu hàng trăm trận, cùng bộ đội chủlực đánh bại nhiều trận càn của địch, tiêu diệt và bắt sống 280 binh lính Pháp, phá huỷ và thu nhiều phương tiện chiến tranh khác. Đặc biệt vào đêm 23 tháng 9 năm 1950, 7 du kích làng Lương Trung (Thuộc xã QuảngTường nay là Phường Trung Sơn) đã phối hợp công an Thanh Hoá và tổ Điệp báo A13 đánh chìm Thông báo hạm AMIODANHVIN của giặc pháp. Người nữ tình báo Anh hùng Nguyễn Thị Lợi đã dũng cảm hy sinh, chị hoá thân thành lửa thiêu đốt tàu chiến giặc cùng 212 lính Pháp, 3 tên việt gian và nhiều quân trang quân dụng…
           Trong hai cuộc kháng chiến, ngoài việc tiếp tế hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm cho các chiến trường, hàng ngàn con em các thế hệ thanh niên Sầm Sơn đã lên đường ra mặt trận chiến đấu bảo vệ tổ quốc. 544 người đã anh dũng hy sinh, hàng trăm người đã để lại mọt phần máu thịt của mình trên các mặt trận… Toàn Thị xã có 9 bà mẹ Việt nam Anh hùng, 1 liệt sỹ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 1 Anh hùng lao động, hàng ngàn người đã được Đảng nhà nước tặng thưởng huân, huy chương cao quý. Do có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ Quốc, Đảng bộ và nhân dân Thị xã Sầm Sơn cùng các xã Quảng Tường (Naylà phường Trung sơn ); Xã Quảng Tiến (Nay là phường Quảng Tiến ); Công an Thị xã Sầm Sơn và Đồn biên phòng 122 đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân.
Với vị trí chiến lược về An ninh Quốc phòng, thuận tiện về giao thông cả đường biển, đường sông và đường bộ. Từ 15 tháng 10 năm 1954 đến ngày 1 tháng 5 năm 1955 Sầm Sơn vinh dự được chọn là nơi đón tiếp hàng chục ngàn cán bộ, chiến sỹ, học sinh là con em đồng bào Miền Nam ra Bắc tập kết. Cũng trong giai đoạn này, Sầm Sơn vinh dự được hai lần đón tiếp Bác Hồ kính yêu vào các năm 1960 – 1961, vẫn còn đó hình ảnh của Người cùng kéo lưới với ngư dân xóm Vinh sơn (Thuộc phường Trường sơn bây giờ). Bác còn căn dặn “…Sầm Sơn phải tận dụng lợi thế của mình để phát triển du lịch mà thu lấy tiền”, lời dặn của Bác được Đảng bộ và nhân dân Sầm Sơn khắc cốt ghi xương, nỗ lực cố gắng và đến nay Sầm Sơn có thể tự hào khẳng định đã thực hiện trọn vẹn lời căn dặn của Bác kính yêu…
           Ngày 18 tháng 12 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ra Quyết định số 157 – QĐ/HĐBT thành lập Thị xã du lịch nghỉ mát Sầm Sơn bao gồm: Thị trấn Sầm Sơn và 3 xã Quảng Tiến, Quảng Cư, Quảng Tường và xóm Vinh Sơn thuộc xã Quảng Vinh, huyện Quảng Xương. Theo đó Thị trấn Sầm Sơn cũ được tách ra làm 2 phường nội thị: Phường Trường Sơn và Phường Bắc Sơn. Thị xã Sầm Sơn gồm 5 đơn vị hành chính.
Ngày 2 tháng 3 năm 1982 Tỉnhuỷ Thanh Hoá ra Quyết định số 194 – QĐ/TU đổi tên Đảng bộ Thị trấn Sầm Sơn thành Đảng bộ Thị xã Sầm Sơn, trực thuộc Tỉnh uỷ Thanh Hoá. Cùng với việc xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng bộ Thị xã, các tổ chức chính trị: Mặt trận tổ quốc, Công đoàn, Phụ nữ, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cũng được củng cố, kiện toàn, tăng cường cán bộ để thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở cấp thị xã. Vui mừng phấn khởi trước sự kiện có ý nghĩa lịch sử này, Đảng bộ và nhân dân Sầm Sơn tích cực thi đua xây dựng Thị xã Sầm Sơn nhanh chóng trở thành đô thị Du lịch Biển Văn minh – Giàu đẹp .
So với chiều dài lịch sử, 30 năm Sầm Sơn xây dựng, phát triển và trưởng thành cũng chỉ là thời gian ngắn ngủi, song Đảng bộ và nhân dân Sầm Sơn có quyền tự hào đã phát huy mạnh mẽ truyền thống Anh hùng của mảnh đất có bề dày lịch sử và văn hoá, dũng cảm kiên cường trong đấu tranh, cần cù sáng tạo trong lao động, sản xuất và xây dựng, đoàn kết thống nhất vượt qua bao khó khăn trở ngại, khai thác tiềm năng lợi thế, xây dựng thị xã ngày một Văn minh – Hiện đại và phát triển bền vững.
Ở giai đoạn đầu, thời kỳ từ năm 1981 đến 1989, kinh tế Sầm Sơn chịu ảnh hưởng của cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, nghề cá và tiểu thủ công nghiệp được coi là 2 ngành kinh tế mũi nhọn của Thị xã; hoạt động du lịch chỉ mới là những bước manh nha ban đầu, chủ yếu là nghỉ dưỡng, các ngành công – nông – lâm nghiệp và giao thông xây dựng còn manh mún, lạc hậu, cơ sở vật chất hạ tầng, các công trình phúc lợi chưa có gì đáng kể. Dù được đánh giá là một địa phương năng động, song tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân cũng chỉ đạt 6%/năm, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, các hoạt động văn hoá xã hội chưa được đầu tư phát triển.
Đầu năm 1989, với chủ trương phát triển du lịch theo tiêu chí “Sầm Sơn – sức khoẻ – kinh tế – bạn bè” của Tỉnh ủy – HĐND và Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa tạo bước ngoặt lớn cho nền kinh tế Sầm Sơn. Theo đó, cơ cấu kinh tế được xác định lại, và du lịch, dịch vụ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trọng yếu của Thị xã. Sầm Sơn bước vào thời kỳ mới với tốc độ phát triển vượt bậc về mọi mặt.
Nhà nghỉ Bộ Tư lệnh Lăng Hồ Chủ Tịch
          Thời kỳ 1991 – 1995, công cuộc đổi mới của đất nước đã thu được những thành tựu quan trọng, cơ chế thị trường định hướng XHCN đã đi vào cuộc sống. Đảng bộ Thị xã Sầm Sơn tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XI, tiếp tục khẳng định tính đúng đắn về phát triển các ngành kinh tế có thế mạnh như: Du lịch, dịch vụ, khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản, có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thị xã. Trong 5 năm 1991- 1995, tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân 9,3%/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng phát triển mạnh du lịch , dịch vụ và chiếm tỷ lệ cao trong tổng sản phẩm xã hội, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển. Các hoạt động văn hoá - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Đảm bảo vững chắc quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện để nhân dân yên tâm sản xuất, kinh doanh và xây dựng cuộc sống.
Thời kỳ 1996 – 2000, Đảng bộ và nhân dân Sầm Sơn thực hiện nghị Quyết đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XII trong tình hình đất nước có nhiều chuyển biến, đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện sau 10 năm đổi mới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 9,8%/ năm. Năm 2000, thu nhập bình quân đầu người tăng gấp 2 lần so với năm 1990; du lịch, dịch vụ chiếm tỷ trọng 46,3% GDP. Thu ngân sách trên địa bàn hàng năm vượt trên 10% so với chỉ tiêu pháp lệnh. Công tác giáo dục phát triển toàn diện cả về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, trang thiết bị dạy học...Năm 1994, Thị xã đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục Tiểu học và xoá mù, góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Đi đôi với việc phát triển kinh tế, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt, các hoạt động văn hoá văn nghệ, TDTT đã có những chuyển biến tiến bộ, khai thác và phát huy được yếu tố truyền thống về văn hoá quê hương, góp phần giữ gìn và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. 15% thôn và khu phố, 16 cơ quan đã tổ chức khai trương xây dựng đơn vị có nếp sống văn hoá; 25% dân số tham gia tập luyện TDTT...thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân tiếp tục được giữ vững, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.
            Bước vào thiên niên kỷ mới – Thế kỷ XXI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2001 – 2005 xác định giai đoạn này còn nhiều khó khăn thử thách, nhưng những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới đất nước, quê hương là thuận lợi cơ bản. Đảng bộ và nhân dân Sầm Sơn tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương, đoàn kết, nhất trí, phấn đấu đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Ở giai đoạn này, kinh tế thị xã có tốc độ tăng trưởng cao, đạt 11,9/năm, tăng 2,1 lần so với giai đoạn 1996 – 2000. Năm 2005 tổng sản phẩm xã hội của thị xã đạt 546 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người 600 USD/năm, tăng 1,8 lần so với năm 2000. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng và du lịch, dịch vụ chiếm tỷ trọng 62,6% GDP.
Các cấp uỷ Đảng, chính quyền từ thị đến cơ sở đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế khác phát triển, đổi mới quan hệ sản xuất; nhiều doanh nghiệp và HTX kiểu mới được thành lập, nhiều đơn vị làm ăn phát đạt. Công tác quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị được xác định là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển toàn diện của Thị xã, đã công bố quy hoạch chi tiết Phường Trung Sơn, khu du lịch sinh thái Quảng Cư, khu du lịch văn hoá núi Trường Lệ, xúc tiến xây dựng nhiều khu dân cư mới ...
Tốc độ đô thị hoá nhanh, cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội được tăng cường, hệ thống đường giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông và các công trình phúc lợi công cộng tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện, 100% các trường học, bệnh viện, trạm y tế được xây dựng kiên cốvà cao tầng, 70% các thôn – khu phố có nhà văn hoá...Các diện tích rừng, các khuôn viên, cây xanh đường phố, cây phân tán được trồng mới, bảo vệ tốt hơn. Vệ sinh công cộng được bảo đảm; môi trường Thị xã ngày một xanh – sạch - đẹp.Cùng với quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, các cấp uỷ Đảng – Chính quyền đã chỉ đạo có hiệu quả Nghị quyết TW 8 khoá IX “Về chiến lược bảo vệ an ninh tổ quốc trong tình hình mới” , thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân ngày một vững mạnh, an ninh chính trị, kinh tế, văn hoá, tôn giáo... và trật tự an ninh toàn xã hội tiếp tục được bảo đảm. Hệ thống chính trị được củng cố và tăng cường; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, công tác quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền được nâng lên. MTTQ và các đoàn thể đổi mới nội dung và phương thức hoạt động hướng về cơ sở để xây dựng phong trào, tạo sự đồng thuận và phát huy được quyền làm chủ trong các tầng lớp nhân dân.Năm 2006, năm đầu tiên thực hiện NQ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, NQ Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XVI, NQ Đại hội Đảng bộ Thị xã Sầm Sơn lần thứ XIV –Năm kỷ niệm 25 năm thành lập thị xã - Năm khởi đầu của kế hoạch 5 năm giai đoạn 2006 – 2010. Đảng bộ và nhân dân Sầm Sơn tiếp tục vượt qua khó khăn, thử thách, phấn đấu giành được những thành tích đáng kể trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng – an ninh, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị ngày một trong sạch, vững mạnh, sự nỗ lực cố gắng và những thành tựu đạt được qua 25 năm xây dựng và trưởng thành của Đảng bộ và nhân dân thị xã Sầm Sơn đã tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triẻn bền vững của một đô thị Du lịch Biển. Bước vào giai đoạn 2006 – 2010 này, được Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVI xác định phát triển du lịch là một trong năm chương trình trọng tâm phát triển Kinh tế - Xã hội trên cơ sở lấy Sầm Sơn làm trọng tâm du lịch của cả Tỉnh; Được Tỉnh ủy – HĐND và UBND Tỉnh cùng các Bộ, Ngành Trung ương quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất hạ tầng với tổng mức đầu tư riêng năm 2007 bằng mười năm cộng lại. Đặc biệt, Lễ hội 100 năm Du lịch Sầm Sơn tổ chức thành công rực rỡ, hoành tráng, bằng hàng loạt hoạt động văn hoá - thể thao – thương mại phong phú và đa dạng, tạo ấn tượng tốt đẹp sâu sắc trong lòng dân và du khách, tạo bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử, tạo nên bước đột phá quan trọng với dáng vóc và tầm cao mới để du lịch Sầm Sơn tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong những năm tiếp theo.
Trên nền tảng ấy, những năm 2006 - 2010, Đảng bộ và nhân dân thị xã Sầm Sơn triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV trong bối cảnh tình hình chính trị xã hội ổn định, đoàn kết trong đảng, trong nhân dân được củng cố, nhiều cơ chế chính sách mới của Trung ương, của Tỉnh được ban hành, đã và đang phát huy tác dụng, là động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới trên địa bàn thị xã. Dưới sự lãnh đao của Ban chấp hành Đảng bộ thị xã khoá XIV, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể Chính trị – Xã hội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, động viên được sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng bộ, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân nỗ lực phấn đấu, đạt những thành tích, kết quả toàn diện trên các lĩnh vực Kinh tế - Chính trị – Xã hội; Quốc phòng – An ninh và công tác xây dựng Đảng.
Đến hết năm 2010, kinh tế Sầm Sơn tiếp tục tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, nhiều chỉ tiêu hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch so với mục tiêu Đại hội XIV đề ra; Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 15,2%/năm; GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 20,5 triệu đồng, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện.Với vị trí trọng tâm, đóng vai trò thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, ngành kinh tế du lịch được các cấp uỷ Đảng, Chính quyền tập trung khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế, khơi dậy và phát triển tốt các giá trị văn hoá, lịch sử, huy động được nhiều nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đạt mức tăng trưởng bình quân 18,2%/năm. Năm 2010 tổng trị giá dịch vụ đạt 650 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 71,3% tổng sản phẩm xã hội của Thị xã, giải quyết nhiều việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận lớn người lao động. Các lĩnh vực kinh tế Nông - Lâm – Ngư nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp giữ được tốc độ tăng trưởng khá, hỗ trợ du lịch phát triển và góp phần nâng cao đời sống nhân dân.
Công tác quy hoạch, quản lý xây dựng và phát triển đô thị được các cấp uỷ Đảng và chính quyền quan tâm chỉ đạo tích cực, quy hoạch mở rộng không gian đô thị đã cơ bản hoàn thành, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội đã được triển khai; xã Quảng Tiến một trong những địa bàn chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội của Thị xã đã được nâng cấp thành Phường Quảng Tiến. Các dự án phát triển kinh tế hạ tầng đã và đang được xúc tiến tích cực; Công tác quản lý tài nguyên và môi trường đạt nhiều chuyển biến mới, môi trường đã xanh – sạch - đẹp...Từng bước làm thay đổi diện mạo đô thị Sầm Sơn, tạo thế và lực cho Thị xã trên con đường hội nhập và phát triển.
           Sự nghiệp giáo dục - đào tạo đạt những bước phát triển khá toàn diện, chất lượng giáo dục đào tạo được nâng lên rõ rệt, số học sinh thi đậu vào các trường Đại học, Cao đẳng hàng năm đạt bình quân 25%, năm sau cao hơn năm trước. Năm 2010 có 01 học sinh lọt vào vòng chung kết và đạt giải ba cuộc chinh phục đường lên đỉnh OLYMPIA . Số trường đạt chuẩn Quốc gia từ 5 trường năm 2005 lên 9 trường năm 2010. Hoạt động khoa học công nghệ có chuyển biến tích cực trong việc nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, nâng cao chất lượng sảm phẩm hàng hoá, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Cầu truyền hình OLYMPIA tại trường THPT Sầm Sơn
           Sự nghiệp Văn hoá - Thông tin – Truyền thanh – Thể dục thể thao có tiến bộ trên một số mặt, từng bước nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân và đáp ứng nhu cầu du khách. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; Phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” luôn được gắn kết với việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” một cách hiệu quả thiết thực. Đến nay toàn thị xã có trên 60% làng thôn - khu phố – cơ quan – trường học đạt danh hiệu đơn vị văn hoá cấp Tỉnh và cấp Thị, trên 70% gia đình văn hoá, 47% gia đình thể thao, 46/49 thôn – khu phố có nhà văn hoá. Hệ thống di tích danh lam thắng cảnh thường xuyên được quan tâm trùng tu, tôn tạo, các giá trị lịch sử văn hoá được khai thác phát huy qua các lễ hội truyền thống.
            Sự nghiệp Y tế – Dân số và công tác gia đình ngày càng được quan tâm và có nhiều chuyển biến tích cực. 5/5 xã phường đạt tiêu chuẩn quốc gia về y tế, công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân đạt kết quả khá, chất lượng khám chữa bệnh từng bước được nâng lên, tinh thần phục vụ nhân dân có nhiều tiến bộ. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống còn 1% vào năm 2010, công tác gia đình được quan tâm theo hướng xây dựng gia đình “ ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
Bệnh viện Đa khoa Sầm Sơn
góp phần xây dựng xã hội lành mạnh, văn minh; các chính sách xã hội được thực hiện hiệu quả, đảm bảo an sinh xã hội, đời sống nhân dân từng bước được nâng lên cả về vật chất và tinh thần, thôn – xóm – phố ngày càng bình yên, hoà thuận.
Công tác Quốc phòng – An ninh những năm qua được các cấp uỷ Đảng, Chính quyền quan tâm nhiều hơn. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Chính quyền điều hành, cơ quan Quân sự – Công an làm tham mưu được thực hiện triệt để, phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu. Động viên được sức mạnh của quần chúng vào việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân và chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, ổn định trật tự trị an, quốc phòng – an ninh vững chắc.
Song song với việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nghị quyết tỉnh Đảng bộ lần thứ XVI và Nghị quyết Đại hội Thị xã Sầm Sơn lần thứ XIV, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được các cấp uỷ Đảng quan tâm triển khai thực hiện đồng bộ từ cơ sở. Thường xuyên nắm bắt diễn biến tư tưởng trong Đảng, trong nhân dân để có định hướng chỉ đạo kịp thời, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc trong nhận thức và hành động, tạo sự chuyển biến tích cực về tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của cán bộ, Đảng viên, lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp xây dựng CNXH được tăng cường, củng cố.
Hàng năm, Đảng bộ Thị xã Sầm Sơn đã tập trung chăm lo xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, chất lượng sinh hoạt Đảng, chất lượng các tổ chức cơ sở Đảng và chi bộ ngày càng được nâng cao. Bình quân hàng năm có 72,5% tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh, 79% Đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ; công tác phát triển Đảng viên mới được các cấp uỷ chú trọng cả về số lượng và chất lượng. Công tác quy hoạch cán bộ từ thị đến cơ sở được thực hiện đúng quy trình, việc luân chuyển, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ đã phát huy được tài năng, trí tuệ, sức sáng tạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt, tạo thuận lợi để cán bộ, đảng viên hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị được giao. Các mặt công tác kiểm tra, giám sát, xử lý kỷ luật Đảng, công tác dân vận của Đảng được các cấp uỷ Đảng thực hiện chủ động, khoa học và sâu sát hơn. Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã phối hợp đồng bộ với các cấp chính quyền, tạo sự phong phú đa dạng các hình thức tập hợp quần chúng, quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng, phát huy; khối đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được củng cố vững chắc.
Trên chặng đường 30 năm xây dựng và phát triển, được Tỉnh ủy – HĐND – UBND Tỉnh và các Bộ, Ngành Trung ương quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi; Đảng bộ và nhân dân Thị xã Sầm Sơn luôn phát huy truyền thống anh hùng, phát huy những giá trị lịch sử – văn hoá truyền thống lâu đời, với tinh thần cách mạng, đoàn kết, thống nhất, nêu cao tính tự lực tự cường, khai thác tiềm năng thế mạnh tạo nên một vóc dáng mới, một diện mạo mới của Đô thị Du lịch Biển Sầm Sơn.
Bước vào giai đoạn 2010 – 2015, Sầm Sơn đang đứng trước những thời cơ, nhiều thuận lợi, Nghị quyết đại hội Đảng bộ Tỉnh Thanh Hóa lần thứ XVII xác định tiếp tục duy trì chương trình phát triển kinh tế Du lịch song song những chương trình trọng tâm khác trong chiến lược phát triển Kinh tế - Xã hội, phát triển nguồn nhân lực đến năm 2015– 2020. Các dự án lớn trên địa bàn Tỉnh như Sân bay dân dụng, Khu kinh tế tổng hợp Nghi Sơn, Tuyến đường ven biển Nga Sơn – Tĩnh gia, Đường vành đai Thành phố Thanh Hóa. Đường quốc lộ 47, Đại lộ Nam Sông Mã, Đường Nam Sầm Sơn - Hải Hòa.... Tiếp tục được đầu tư, hoàn thiện; Nhất là chương trình mở rộng không gian Đô thị Sầm Sơn, để Sầm Sơn trở thành đô thị loại III trước năm 2015; cùng những chuyển biến tích cực của nền kinh tế trong nước và Tỉnh nhà, những thành tựu đạt được trong chặng đường 30 năm xây dựng – phát triển, sẽ tạo thế và lực mới để thị xã thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, đảm bảo Quốc phòng An ninh những năm tiếp theo.
            Trong hành trình mới, Đại hội Đảng bộ Thị xã Sầm Sơn lần thứ XV, nhiệm kỳ 2010 – 2015 đã xác định: “Phát huy có hiêụ quả tiềm năng thế mạnh đô thị du lịch biển; tăng cường nội lực và thu hút các nguồn lực đầu tư để phát triển nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, chú trọng phát triển 2 ngành kinh tế có thế mạnh là: dịch vụ du lịch và nghề cá. Tập trung nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh; đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, đảm bảo kỷ cương, tập hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, chung sức xây dựng đô thị du lịch biển Giàu đẹp – Văn minh – Hiện đại”
Trên bước đường đi tới còn nhiều cam go, trở ngại, nhưng phía trước Đảng bộ và nhân dân Sầm Sơn là thời cơ vàng, là thiên thời - địa lợi – nhân hoà, bằng sự cố gắng nỗ lực, nhất định Thị xã Sầm Sơn sẽ thành công trong xây dựng và phát triển Thị xã Quê hương, xứng đáng là một trung tâm du lịch của cả tỉnh, cả nước với tên gọi vốn có : Sầm Sơn !

Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập thị xã ( 1981 – 2001 )

Lễ kỷ niệm 25 năm thành lập thị xã ( 1981 – 2006 )

     Đ/c Nông Đức Mạnh
Chủ tịch Quốc hội về thăm Sầm Sơn 22/2/1993
 
 
Đ/c: Đỗ Mười - Tổng Bí thư
    về thăm và làm việc tại Sầm Sơn 7/1993

 
Đ/c Trần Đức Lương
Chủ tịch nước về thăm Sầm Sơn tháng 9 năm 1999
 
 
Tổng Bí thư - Lê Khả Phiêu
            về thăm Sầm Sơn  7 /1999
 
 
Thủ tướng - Phan Văn Khải
về thăm Sầm Sơn 6 / 1999
 
 
Chủ tịch Nước - Nguyễn Minh Triết

 về dự Lễ hội 100 năm Du lịch Sầm Sơn tháng 5/2007

Đại hội Đảng bộ thị xã khóa XV

 

SẦM SƠN
VÙNG ĐẤT ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC
VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT
                                                     
            Với địa thế là vùng đất mở, tín ngưỡng cư dân vùng biển Sầm Sơn vừa mang rõ yếu tố bản địa, vừa giao lưu với các nền văn hóa từ nơi khác mang đến cho vùng biển tiếp nhận những yếu tố mới của văn hóa, tôn giáo: Phật (Ấn Độ), Kỳ Na Giáo (Chăm Pa), Nho, Lão (Trung Hoa) và Đạo Thiên Chúa Giáo… Các tôn giáo, tín ngưỡng đến với Sầm Sơn chủ yếu bằng đường biển và đường bộ. Chứng cứ là Phật giáo được thờ phụng ở chùa Khải Minh (Làng Núi cũ, nay là Phường Bắc Sơn), chùa Lương Trung (Làng giữa cũ nay thuộc phường Bắc Sơn) và Chùa Ải (xã Quảng Tiến). Đạo Lão, Đạo Nho được thờ ở đền Tô Hiến Thành, Hoàng Minh Tự, đền Đô Đốc, Nguyễn Sỹ Dũng… Đạo Mẫu được thờ ở đền Cô Tiên, đền Bà Triều và thờ ghép ở một số đền, chùa khác. Điều đó đã chứng minh: Tôn giáo, tín ngưỡng là một bộ phận của văn hóa tinh thần của con người, mà ở đó người ta cảm nhận được sự tồn tại của các vật thể, các lực lượng mang tính siêu nhiên, nó chi phối đời sống con người, nằm ngoài giới hạn hiểu biết khách quan của con người hiện tại.
Tôn giáo tín ngưỡng là một bộ phận văn hóa tinh thần. Niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng vào các lực lượng siêu nhiên; thần Độc Cước: vị Thần Núi, Thần Biển, Thần Mặt Trăng… cũng như các vị thần khác được phụng thờ: Tô Hiến Thành, Hoàng Minh Tự, Đề Lĩnh… đã chi phối đời sống tinh thần của người Sầm Sơn. Niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng đó, xuất phát từ môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa ở chính nơi họ đang sinh sống.
          Bên cạnh các tôn giáo, tín ngưỡng, tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ, chăm chút mộ phần bình yên, mong cầu phù hộ trợ giúp họ trong những dịp lễ tiết, giỗ chạp, hội hè hàng năm. Thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của các thế hệ con cháu đối với ông cha thuở trước.
          Sầm Sơn, vùng đất có vốn văn hóa – văn nghệ dân gian phong phú, mang sắc thái của cư dân vùng biển. Mỗi một hòn núi, rặng cây đều gắn liền với những sự tích, huyền thoại do nhân dân sáng tạo nên. Đó là truyền thuyết thần Độc Cước, huyền thoại Trống Mái, Sự tích bà Triều…
           Dân ca, dân vũ ở vùng đất này có nhiều sắc thái. Hò là một loại hình sinh hoạt văn hóa vui tươi thể hiện niềm lạc quan, yêu đời, khắc phục gian khó của những người dân biển. Hò có nhiều loại: Hò kéo thuyền, hò kéo lưới (rùng), hò vá lưới, hò ra khơi… ngoài ra còn có hò đi cấy, đi cày, đi chợ… các làn điệu hò thường là tiếng lòng, điệu hồn của người vùng biển luôn vang vọng, bổng trầm, lan xa trên vùng biển đông đầy nắng, gió.
Về tục ngữ phương ngôn, người dân ở đây chủ yếu sử dụng phổ biến như những câu nói cửa miệng:
-         Có cứng mới đứng đầu gió
-         Đứng mũi, chịu sào
-         Ăn sóng nói gió
-         Lấy chồng kẻ bể, chớ nể nồi khoai...
Cùng với truyền thuyết, tục ngữ, phương ngôn, người Sầm Sơn thường thích vè và nói vè. Họ sáng tác và sử dụng rất linh hoạt, chủ đề thường rất phong phú, đa dạng. Phản ánh muôn mặt của đời sống xã hội, từ những việc đại sự của Quốc gia, dân tộc đến cả những thói hư, tật xấu trong cuộc sống thường ngày. Sau đây là một số bài vè phổ biến về nhật trình đi biển, vè về thời tiết
Tốt gió ta chạy buồm ba
Nhược bằng không gió chúng ta cầm chèo
Gió Nam phảng phất thẳng lèo
Anh em ta lại gác chèo nghỉ tay…
           Tháng tám rung trên
           Tháng năm rung dưới, nồm lên ào ào
           Dòm ra thấy sóng ngả vào
           Cá lớn cá nhỏ, cá nào cũng đi…
Vè về các trận bão lụt lớn:
                      Nhớ năm Bảo Đại nhị niên
                      Hăm ba tháng tám trời liền gió tây
                      Hăm tư cũng gió suốt ngày
                      Hăm lăm, hăm sáu gió quày hướng đông
                      Rạng ngày hăm bảy ăn xong
                      Bỗng đâu nước mặn ầm ầm nổi lên
                      Một giờ lút cả dưới trên
                      Bao nhiêu lúa má, dồng điền sạch tinh
                      Cửa nhà nước ngập mái tranh
                      Đồ ăn, giống đựng dập dềnh trôi đi.
Cùng vời hò, vè còn phải kể đến ca dao vùng biển, phản ánh đời sống sinh hoạt của cư dân vùng biển với nhiều cung bậc tình cảm khác nhau:
Ca dao về nghề nghiệp      
- Em là con gái kẻ quê. Lấy chồng kẻ bể nhiều nghề lắm thay
- Nhà ta; nghề lộng, nghề khơi Lấy Nường khuya  sớm vác bơi, vác chèo
                             - Chồng thì vô lộng, vào khơi
                             Vợ thì bát sét, bát vơi cũng vừa
                             - Không chạy thì sợ chợ trưa
                   Chạy thì trên nắng, dưới mưa cực lòng.
Ca dao về món ăn:
                             - Cá lẹp kẹp với lộc vừng
                   Chồng gắp một miếng vợ trừng mắt lên
- Em ơi bánh đúc bẻ ba
Tôm canh quẹt ngược cả nhà Anh xiêu...
                             Họ quan niệm:
                   Toét mắt là tại hướng đình     
                   Cả làng chứ phải một mình chi em.
Và họ ao ước, mong cho cuộc sống đơn sơ đến mỗi gia đình;
                   Bao giờ cho đến tháng mười
                    Bát cơm đầy cười, con cá bắc ngang
 
Sống ở môi trường biển, đánh bắt tôm, cá là nghề nghiệp nuôi sống họ. Do vậy trong quá trình vật lộn với sóng gió biển cả, họ đã nắm bắt được quy luật của thời tiết, của triều cường, con nước, đá ngầm, vực xoáy… để rồi qua trải nghiệm và đúc rút những kinh nghiệm thành tri thức dân gian truyền lại cho các thế hệ:
      Đồng chí Vương Văn Việt – P.Chủ tịch UBND tỉnh đánh trống khai hội Cầu phúc
                   - Nực tháng ba, nồm hoa tháng tám
                   - Tháng giêng, tháng bảy kề tà
                   Mùng năm, mười chín sinh ra cùng ngày
                   Tháng hai, tháng chín chẳng chày
                   Mùng ba, mười bảy mấy ngày thông thuông
                   Tháng ba, tháng chín tỏ tường
                   Mười ba, hai bảy nước cường ai ơi
                   Tháng tư cùng với tháng mười
                   Hai lăm, mười một cũng hồi nước sinh

Bao giờ cho đến tháng mười
                   Thì con đi lộng, ra khơi mặc lòng…
                     Về phong tục tập quán, lễ hội.
          Người dân Sầm Sơn có tục ăn chạp vào ngày mùng 2 tháng 12 âm lịch và ăn tết lại vào ngày 13 tháng giêng. Lễ cầu phúc vào 16 tháng giêng âm lịch. Lễ hội Làng Lương Trung vào tháng giêng. Lễ hội Rước bóng bà Triều vào ngày 10 tháng 2 ÂL. Lễ hội Báng Chưng – Bánh Dày ngày 12 tháng 5 ÂL và Lễ hội bơi chãi cầu ngư (Quảng Tiến) ngày 15 tháng 5 ÂL./.
 
 
 Nhân dân Sầm Sơn khai thác Ngao biển.
 

Ngư dân Sầm Sơn kéo lưới rùng.

 

UB MTTQ thị xã Sầm Sơn
Phát động ủng hộ người nghèo năm 2010

 

Đoàn Đại biểu cháu ngoan Bác Hồ Sầm Sơn báo công
tại Khu tưởng niệm Bác Năm 2006
 
Hội viên nông dân xã Quảng Cư thị xã Sầm Sơn
đang nuôi  trồng thuỷ sản

 

THỊ XÃ SẦM SƠN – NƠI HỘI TỤ NHỮNG TIỀM NĂNG DU LỊCH

Chơi bóng chuyền bãi biển Sầm Sơn

Bãi biển Nam Sầm Sơn

 

SẦM SƠN
DI TÍCH - DANH THẮNG VÀ LỄ HỘI
                                                                                                                                      
SƠ LƯỢC V H THNG DI TÍCH LCH S - VĂN HOÁ VÀ DANH LAM, THNG CNH TH XÃ SM SƠN.
Thị xã Sầm Sơn có diện tích 18 km2 với 17 Di tích – Danh lam được phân bố đều ở 5 xã phường.
 
1. Đền Độc cước :
Nằm trên hòn Cổ Giải thuộc Núi Trường Lệ, Phường Trường Sơn. Thờ vị Thần Một Chân (Độc Cước) đã có công tự xẻ đôi thân mình, dẹp loài Thuỷ Quái, bảo vệ cuộc sống bình yên cho Dân chài Sầm Sơn, được nhân dân phụng thờ 4 mùa cúng tế. Nơi đây còn là nơi diễn ra Lễ hội truyền thống Bánh Chưng – Bánh Dày hàng năm vào ngày 12 tháng 5 âm lịch. Di tích đã được Bộ Văn hoá TT xếp hạng năm 1962.
2. Đền Cô Tiên:
Nằm trên một vị thế khá đẹp, thoáng đãng phía Nam núi Trường Lệ. Truyền thuyết xưa kể rằng: Ngôi đền này thờ một người con gái làm nghề thuốc cứu nhân độ thế. Cô gái vì không vâng lời cha lấy một kẻ nhà giàu nên bị cha đuổi đi. Sau đó cô đem lòng yêu và lấy Anh chàng nghèo khó mà tốt bụng tên là Côi. Cuộc sống đang êm ả thì

Đền Cô Tiên - Thị xã Sầm Sơn Nàng bị bệnh hủi, rồi một cụ già xuất hiện đã chạy chữa bằng thuốc lá nam và nước suối lấy từ Vụng Tiên. Cô gái khỏi bệnh, Bà cụ ra đi để lại cho vợ chồng họ một tay nải để che mưa và một giỏ mây để đựng thuốc lá cứu người.
Một lần, hai vợ chồng đi chữa bệnh về khuya gặp trời mưa to, nhớ lời Bà cụ dặn lấy tay nải ra che mưa, rồi thiếp đi lúc nào không biết. Sáng dậy, hai vợ chồng thấy mình đang ngồi trong một ngôi nhà 3 gian khang trang, sạch sẽ. Từ đó họ ở lại ngôi nhà, hái lá nam chữa bệnh cho mọi người trong vùng. Một buổi sáng đẹp trời cả hai vợ chồng ăn mặc rất đẹp, dắt tay nhau đi lên đỉnh núi rồi không thấy trở về. Từ đó ngôi nhà được trở thành đền Cô Tiên được dân làng khói hương quét dọn. Ngôi đền vinh dự được Bác Hồ về thăm và nghỉ chân năm 1960. Sau nhiều lần sửa chữa nhỏ, cuối năm 2010, UBND Thị xã Sầm Sơn đã quyết định đầu tư trùng tu, tôn tạo và đã nhiều lần trùng tu, sửa chữa. Là Di tích được Bộ Văn hoá - TT xếp hạng năm 1962.
3. Đền Tô Hiến Thành:
Nằm khiêm tốn ở sườn núi phía Đông Bắc dãy Trường Lệ thuộc Phường Trường Sơn thờ Thái uý Tô Hiến Thành, một vị tướng giỏi, một ông quan thanh liêm, cương trực thời Lý. Di tích đã được Bộ Văn hoá - TT xếp hạng năm 1962
4. Hòn Trống Mái:
Đây là một Danh thắng nổi tiếng của Sầm Sơn nói riêng và của Tỉnh Thanh Hoá nói chung. Tạo hoá đã ban tặng cho Sầm Sơn một bức tranh tuyệt đẹp, một câu chuyện bi tình sử với mối tình thuỷ chung, sống chết bên nhau của cặp vợ chồng trẻ sau đại nạn Hồng thuỷ, để Bầy Tiên du ngoạn nơi trần gian phải động lòng cảm phục cho hoá thành đôi Chim Đá để ngày ngày quấn quýt bên nhau trên núi cao không bao giờ chịu cảnh lũ lụt nữa . Danh thắng được bộ văn hoá xếp hạng cùng Đền Độc Cước, Cô Tiên và Đền Tô Hiến Thành
5. Đền Hoàng Minh Tự: (Hay còn gọi là Đền Đệ Tam )
Đền Hoàng Minh Tự thuộc Khu phố Sơn Thuỷ – Phường Trường sơn. Là Di tích năm trong tổng thể khu Di tích hết sức có giá trị về mặt lịch sử của Phường Trường Sơn nói riêng và của Thị xã Sầm Sơn nói chung. Nhân dân trong làng vẫn thường gọi là Đền Hạ (Theo vị trí địa lý Đền Độc Cước là Đền Thượng, Đền Tô Hiến Thành là Đền Trung)
Ngôi đền thờ vị Nhân Thần Hoàng Minh Tự - Đỗ quan Hoàng Giáp. Là biểu tượng cho sự học hành đỗ đạt. Đền được Sở Văn hoá - TT Thanh Hoá công nhận là Di Tích lịch sử văn hoá năm 2005.
6. Chùa Khải Minh:
Là ngôi chùa cổ được khôi phục lại (1994) có quy mô lớn nhất trong hệ thống thờ Phật ở Sầm Sơn, chùa có hàng chục pho tượng cổ đẹp, khánh đá to đẹp và chuông đồng có cữ “ Đông Khê áp chung”. Chùa Khải Minh nay thuộc Khu phố Bình Sơn Phường Bắc Sơn. Được Sở Văn hoá - TT Thanh Hoá công nhận là Di tích Lịch sử Văn hoá năm 1994
 
7. Chùa Làng Lương Trung (Hay còn gọi là Thanh Am Tự )
Nằm ở khu phố Long sơn thuộc Phường Bắc sơn. Đây cũng là một ngôi chùa được khôi phục lại qua thời gian bị phá dỡ. Là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân trong vùng. Có 2 hệ thống tín ngưỡng chính là thờ Thần (Thần Hoàng Làng) và thờ Phật. Di tích đã được Sở Văn hoá - TT Thanh Hoá Công nhận là Di tích Lịch sử Văn hoá năm 1999
8. Đền Đề Lĩnh (Thuộc địa bàn Phường Trung sơn)
Đây là ngôi đền thờ Thần Hoàng làng Lương Trung: Đường Công Quang Lộc, là Tứ trụ triều đình thời vua Lê Tương Dực (1510 – 1515) có công khai dân, lập ấp nên Làng Lương Trung trong lịch sử. Được nhân dân tôn thờ cúng tế và suy tôn là ông tổ của Lò võ vật Lương Trung. Vào dịp ngày giỗ Thần 16 tháng giêng, nơi đây diễn ra lễ hội truyền thống với các hoạt động văn hoá mang tính giáo dục cho nhiều thế hệ. Di tích được Sở Văn hoá - TT Thanh hoá cấp bằng công nhận năm 1995
9. Đền thờ Bà Triều:
Thuộc Làng Triều Dương cũ, nay là khu phố Xuân Phú và Vĩnh Thành, Phường Trung Sơn. Đây là ngôi đền thờ vọng Bà Triều; Tổ sư nghề dệt săm súc, là một loại phương tiện đánh bắt tôm, moi, hải sản của nhân dân Sầm Sơn. Hàng năm diễn ra Lễ hội truyền thống vào ngày 10 tháng 2 âm lịch. Di tích được Sở Văn hoá và Thông tin Thanh Hoá công nhận là Di tích danh thắng cấp Tỉnh năm 1995.
10. Đền Cá Lập: ( Hay còn gọi là Đền Làng Trấp )
Thuộc Phường Quảng Tiến, thờ Tướng quân Trần Đức có nhiều công trạng trong công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm thời Trần. Được vua ban chức sắc Quan Chánh lãnh binh; Trà lệnh hầu. Được các triều đại Phong kiến Việt Nam truy phong là: Tây Phương Đại Tướng Quân. Được nhân dân trong vùng phong Thần Hoàng Làng Chấp. Đây là Di tích được Bộ Văn hoá xếp hạng Quốc gia năm 1999. Đến nay Đền mới được trùng tu, tôn tạo khá quy mô.
11. Đền làng Lộc Trung ( Thuộc Phường Quảng Tiến )
Đây cũng là ngôi đền được khôi phục lại cách đây trên vài chục năm, sau những phế tích còn lại những năm xưa. Thờ Tướng quân Nguyễn Sỹ Dũng lập nhiều công trạng trong cuộc kháng chiến giữ nước thời Vua Quang Trung – Nguyễn Huệ. Lễ hội hàng năm cũng vào ngày mồng 5 tết âm lịch, nhân dân trong vùng tổ chức để tỏ lòng ngưỡng mộ, nhớ ơn Ngài và giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau. Ngôi đền đã được Sở Văn hoá - TT công nhận là Di tích lịch sử Văn hoá năm 1993
12. Đền Làng Hới
Ngôi đền nằm cạnh Cảng Hới, Phường Quảng Tiến. Là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh vùng biển Sầm Sơn nói chung và của nhân dân Làng Hới nói riêng. Hàng năm nơi đây diễn ra Lễ hội bơi chãi truyền thống, để tranh tài các tay đua thuyền trên sông biển. Đây cũng là nơi hội tụ của chủ tàu thuyền đánh bắt hải sản đến thắp hương, cầu cúng trước và sau khi ra khơi, vào lộng. Di tích được Sở Văn hoá - TT xếp hạng năm 1993.
13. Đền Bà Triều.
Được người xưa dựng trên đất Làng Chấp, nay thuộc Thôn Công Vinh, xã Quảng Cư (Trước đây Đền được tọa lạc trên Làng Triều ngoài), nay thuộc thôn Tiến Lợi, do sụt lở sông ngòi, Đền được cha, ông di dời đến địa điểm ngày nay). Ngôi Đền thờ Bà Triều; Tổ Sư của nghề dệt săm súc, một phương tiện đánh bắt tôm, moi, hải sản của vùng Sầm Sơn. Đây là một làng nghề truyền thống đang được khôi phục và phát triển tại thôn Tiến Lợi, nơi Bà đã truyền nghề cho con cháu muôn đời. Lễ hội truyền thống vào ngày 10 tháng 2 âm lịch, với các hoạt động Văn hoá - TT cùng các lễ nghi như: Rước kiệu, tế lễ...
Đền Bà Triều đã được Sở Văn hoá - TT Thanh hoá công nhận là Di tích lịch sử Văn hoá năm 1993 và mới được nhân dân trùng tu – tôn tạo năm 2004.
14.Đền Thanh Khê ( Hay còn gọi là Đền Làng vạn ) thuộc xã Quảng Cư
Đây là một ngôi đền cổ có kiến trúc còn tương đối nguyên vẹn với những nét chạm trổ tinh xảo và nhiều hiện vật quý hiếm được thờ trong đền. Theo Thần phả và Sắc phong để lại thì Đền Thanh Khê thờ Tứ vị Thánh Nương (Cung cấm – Hữu cung); Tam toà Đại Vương (Cung Đệ Nhị) và Đông sát Hải phi vượng Tướng quân (Cung Đệ Tam). Hàng năm cứ đến ngày mồng 3 tháng 3 âm lịch, nhân dân trong vùng tổ chức lễ hội truyền thống. Di tích đã được Sở Văn hoá - TT Thanh Hoá công nhận năm 1994.
15. Đền thờ Phủ Đô Hàu (Trương Đức Dong)
Đền nằm trên đất Thôn Thành Thái xã Quảng Cư. Đây là một ngôi Đền có quy mô đền thờ nhỏ, kiến trúc chưa có gì đặc sắc. Địa phương đang có kế hoạch trùng tu, tôn tạo quy mô hơn. Di tích đã được Sở Văn hoá - TT Công nhận năm 1993.
16. Đền thờ Ngư Ông . (Thuộc phường Quảng Tiến )
Đền thờ Cá Ông (Ông voi); Một tín ngưỡng vùng biển rất được nhiều nơi ven biển thờ cúng, đặc biệt những gia đình sống bằng nghề chài lưới, sông nước. Là Di tích lịch sử Văn hoá, được Sở văn hoá - TT Thanh Hoá công nhận năm 2004.
 
 
 
17. Đền thờ Họ Trần:
Đây là ngôi đền thờ tướng quân Trần Uy Đức, ông đã dũng cảm hy sinh bảo vệ Thái sư Trần Quang Khải; được phong tước Trà Lệnh Hầu, quan chánh Lãnh Bỉnh triều Trần. Đền được xây dựng từ thế kỷ thứ XVIII, tại Làng Cá Lập, phường Quảng Tiến; được trùng tu tôn tạo nhỏ vào năm 1905. Đền đã được Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh Hóa ra quyết định xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa ngày 25 tháng 12 năm 2007.
 
 

Sầm Sơn – Huyền thoại

             Từ Thành phố Thanh Hoá đi dọc theo đường quốc lộ 47 về phía đông, trước mắt chúng ta hiện dần một dãy núi xám sẫm, chênh chếch hướng Đông Nam, luôn biến hoá thành nhiều hình thù kỳ ảo, khi uốn lượn như làn sóng, lúc hòn cao, hòn thấp, nhấp nhô, tầng tầng, lớp lớp và cuối cùng là một pho tượng vĩ đại, tầm vóc còn lớn hơn cả Bà Nữ Oa thần hiện lên. Đó là núi Trường Lệ giống hình dáng một người phụ nữ, với những nét cong mềm mại, nằm ngửa mặt nhìn lên vòm trời xanh cao lông lộng.
Chuyện kể rằng: Vào thuở mới sinh ra loài người, có một người phụ nữ bụng mang dạ chửa bị trận đại hồng thuỷ cuốn trôi ra cửa biển, rồi dạt vào bờ, Bà nằm lại đây nguyện làm con đê chắn sóng. Cảm phục và thương xót trước tấm lòng cao cả của Bà, nhân dân trong vùng rủ nhau đem đất đá đắp lên thi hài Bà thành dáng núi Trường Lệ ngày nay.
Có thuyết lại kể rằng: Từ trong bụng mẹ bước ra một cậu bé khôi ngô tuấn tú, lớn nhanh như thổi, sức khoẻ phi thường, ngày ngày thương mẹ, cậu cùng nhân dân nhặt đất đá đắp lên thi hài mẹ để nấm mồ lớn dần thành núi Trường Lệ. Cậu bé đó trưởng thành như một chàng trai khổng lồ, dũng cảm xẻ đôi thân mình cùng nhân dân làng chài đánh tan loài quỷ biển, về sau trở thành Thần Độc Cước, được nhân dân xây đền thờ phụng, hương khói 4 mùa..
Trường Lệ là dãy núi dài, đẹp. Đứng ở trung tâm Thị xã nhìn lên chúng ta thấy dãy núi chập chùng đỉnh cao, ngọn thấp: Sầm Sơn phong cảnh hữu tìnhHòn kèo cao nhất, Hòn ngành thứ haiThứ ba Hòn núi Phù Thai.Thứ tư Cổ Dải – Năm ngoài Đầu Voi”
Hòn ở đây theo cách nói của người địa phương nghĩa là ngọn núi. Mỗi hòn núi mang một dáng dấp, vẻ đẹp riêng, cho ta một bức tranh toàn thể, cao, dài bát ngát. Bài thơ của ông Nghè Khuyến (Người Nghĩa Trang – Hoằng Hoá) đoạn đầu đã viết:
“Khà khà ! khéo đúc cảnh thiên nhiên
Thú vị Sầm Sơn tựa chốn Tiên
Sóng vỗ phấp phô phun bọt nước
Đá chồng khấp khểnh tựa toà sen.
Sớm ra kẻ dạo, lao xao chợ,
Chiều lại người đua, thấp thoáng thuyền.
Cuộc rượu Sầm Sơn vui vẻ quá,
Khà khà! khéo đúc cảnh thiên nhiên…”
Một nhà thơ khuyết danh khác cũng từng viết:
“ Bể rộng ai đào để đắp non,
Vết chân Độc Cước tới nay còn.
Lô nhô sườn núi nhà thưa mái
Khấp khểnh chân mây, đá mấy hòn”.
Dẫu không có giá trị nhiều về tư tưởng, nhưng đã phản ánh được vẻ đẹp hoàn toàn tự nhiên của núi Trường Lệ mà không phải nơi nào cũng có. Mỗi hòn núi, mỗi bờ khe tự nó có thể kể cho chúng ta một sự tích, một huyền thoại, hay ít nhất với hình dáng kỳ lạ, nó gợi mở cho chúng ta trí tưởng tượng của người du ngoạn cất cánh, bay bổng.
  
Truyền thuyết:
“Thần Độc Cước”
 
           Thuở xưa, xưa lắm, ngoài biển khơi có một loài Quỷ đỏ rất thích ăn thịt người; Dân chúng kể rằng: Loài Quỷ này mình tròn trùng trục, mõm dài vêu vao, răng nhọn hoắt, miệng đỏ lòm; dân chài ra khơi đánh cá thường bị chúng bắt ăn tươi nuốt sống... không đi biển thì cả nhà đói khát, mà đi thì khó thoát khỏi nanh vuốt loài Quỷ biển, họ đành phải mò ngao, bắt con tôm, con ốc nơi cửa sông, ven bờ để sống lần hồi cho qua ngày đoạn tháng.
Nhưng lũ Quỷ nào chịu để yên, chúng khát mồi, mò vào tận đất liền, hàng loạt người dân vô tội, không kể đàn ông, đàn bà, trẻ em... tóm được người nào chúng ăn thịt ngay người đó. Xóm làng dần dần trở nên vắng ngắt, ruộng vườn, nhà cửa xơ xác hoang tàn.
Hồi bấy giờ, một chú bé mồ côi vừa chui ra khỏi bụng mẹ đã biết chạy nhảy và lớn nhanh như thổi (Theo truyền thuyết thì đây là con của Mẹ núi); Hột lúa lớn bằng người ôm, trấy cà con bằng người gánh vẫn không đủ nuôi chú bé. Được đất trời phù hộ, chẳng bao lâu chú bé đã trở thành một chàng trai cao lớn dị kỳ. Chàng đứng trên ngọn núi cất tiếng hú vang, dân làng lâu nay phiêu bạt tận đầu sông cuối rừng đều lục đục kéo nhau về. Họ cất lại nhà, sửa sang vườn tược, đàn ông theo chàng khổng lồ ra khơi đánh cá, đàn bà ở nhà chăn nuôi, trồng trọt, cuộc sống của họ chẳng mấy chốc lại no đủ, bình yên.
Có Chàng trai cùng dân làng ra khơi đánh cá loài Quỷ đỏ không làm gì được, hễ con nào lăm le thì lập tức bị băm vằm, xương tan thịt nát dưới lưỡi búa sắc như nước và sáng loáng của chàng.
...Nhưng loài Quỷ biển tinh quái, thừa cơ hội hôm chàng khổng lồ cùng thanh niên trai tráng trong làng ra khơi đánh cá, chúng lẻn vào bờ cướp phá, nhiều người già, phụ nữ, trẻ em bị chúng bắt ăn thịt. Hôm sau, chàng khổng lồ ở lại nhà với những người sống sót, thì ngoài khơi các bạn chài lại bị chúng lật thuyền vây bắt. Căm giận loài Quỷ biển đến tím ruột bầm gan, yêu xóm chài, thương dân lành vô tội, Chàng quyết chí phải diệt hết loài Quỷ dữ để dân chúng được bình yên khi đi biển, lúc trên bờ. Chàng cầu xin Mẹ Núi cho sức mạnh để tiêu diệt loài thuỷ quái rồi dùng búa tự xẻ đôi thân mình. Lưỡi búa chia Chàng làm đôi nhưng lạ kỳ thay hai nửa thân Chàng vẫn khoẻ mạnh, quắc thước, dũng khí lạ thường. Một nửa thân Chàng theo dân chài ngày ngày ra khơi đánh cá, còn một nửa đứng trên đầu núi canh giữ cho xóm làng lúc nào cũng được bình yên.
Từ đó vùng biển Sầm Thôn sóng lặng, gió yên, dân lành vui cảnh “Chồng chài, vợ lưới, con câu”, không còn phải lo nạn Quỹ đỏ tàn hại nữa. Nửa thân Chàng khổng Lồ đứng mãi trên đầu núi, bàn chân hằn sâu vào đá, lưu lại dấu tích mãi muôn đời. Về sau Ngọc Hoàng hay tin hạ giới có Chàng trai dũng cảm xẻ đôi thân mình gìn giữ cho xóm làng dân chúng được hạnh phúc bình an. Vào một ngày trời quang mây tạnh, Người phái Thiên sứ cưỡi mây xuống núi đón Chàng về trời. Người phong Thần, phong Thánh cho Chàng với tên gọi là “Thần Độc Cước”.
Câu chuyện trên phản ánh sức vóc vĩ đại của tổ tiên ta, nói lên ước mơ kì diệu của người xưa trong công cuộc đấu tranh chống thiên tai ác liệt, đồng thời ca ngợi một tấm gương chói lọi xả thân bảo vệ nhân dân, bảo vệ quê hương đất nước, biển trời. Đền Độc Cước ngày nay là do nhiều thế hệ cha ông chúng ta xây nên để thờ Thần Độc Cước, và để nhân dân Sầm Sơn cùng du khách bốn phương quanh năm được hương khói, phụng thờ, vãn cảnh...
 
 
Sự Tích:Bà Triều
 
Đã lâu và lâu lắm ở Sầm Sơn chưa có nghề ngư. Người dân chỉ kiếm sống bằng cách đi ven biển tìm bắt những con còng, con trai chứ ít khi bắt được cá tôm vốn rất nhiều ở dưới biển.
Một ngày nọ biển động sóng to, gió lớn khiến không một ai dám ra khỏi nhà, nhưng trên bãi biển vẫn có một bà già đầu bạc, lưng còng đang lần bước cố chống chọi lại với bão tố phũ phàng. Bà cụ khó thoát khỏi cái lưỡi khổng lồ của sóng thần đang chuẩn bị ập tới. Nhưng rồi có một cô gái không chịu nổi cảnh sắp xảy ra, nên đã liều mình lao tới cõng bà cụ chạy vào nơi an toàn. Từ đó bà cụ sống với cô gái, thương nhau như hai mẹ con vì cô gái cũng không còn ai nương tựa.
      Một già, một trẻ tựa vào nhau kiếm ăn trên bãi biển ngày ngày, có một điều thật lạ, từ ngày ở chung với nhau cuộc sống của họ khấm khá hẳn lên. Làng xóm đồn rằng cô gái ấy được bà cụ trao cho một vật báu có thể đánh bắt được cá tôm theo ý muốn. Người làng dò hỏi, nhưng ai nấy đều ngạc nhiên khi thấy cô đưa ra một tấm lưới gai se rất săn, được đan thành những chéo đều và dày, không ai tin mành lưới đơn sơ ấy đánh được tôm cá. Mọi ngưới đều cho rằng mẹ con bà không thật bụng đã lừa dối dân làng, nên buộc họ phải dời đi nơi khác. Mẹ con người đàn bà nọ phải sang phía Bắc Lạch Trào ở vì họ không thể nào sống xa biển được. Ngày họ ra đi không có ai đưa tiễn, nhưng có nhiều chàng trai để thương, để nhớ trong lòng. Họ thầm yêu cô gái nhưng không dám cưỡng lại lệ làng. Trong số những trai làng đem lòng cảm mến cô gái, có một chàng trai yêu cô da diết, anh giấu kín tình cảm không thổ lộ với ai, đêm đêm lẳng lặng vượt Lạch Trào đến với người thương.
Cuộc sống của họ cứ trôi đi trong nỗi buồn vời vợi, cô gái chỉ biết khuây khoả với những chéo lưới mà mẹ nuôi bày cho xe đan hàng ngày. Còn chàng trai làm bất cứ công việc gì để trái tim dịu bớt nỗi đau. Nhờ có lưới của họ mà dần dần dân mạn Bắc Lạch Trào đánh bắt cá dễ dàng hơn. Cuộc sống ở đó ngày càng giầu có, đông đúc...
Trong khi ấy, bên Sầm Sơn người dân vẫn sống vất vả. Cũng cái cảnh bắt ốc, nhặt trai, bắt sứa...qua ngày. Người Sầm Sơn bèn khấn cầu Thần Độc Cước, nhờ Thần bày cho cách làm ăn. Độc Cước báo mộng cho dân làng: “ Ta chỉ là Thần giúp dân giữ yên bờ cõi, bà cụ mà các người đuổi đi mới là Thần giúp dân làm nghề sinh sống, các người đã xử sự sai với cụ thì phải biết tu sửa lấy mình”.
Cộng đồng Sầm Sơn định cử một số trai tráng vượt sông sang tạ lỗi và đón mẹ con bà về bên này; Chàng trai – người yêu của cô gái đã đứng ra xin cộng đồng đảm nhiệm công việc. Bà cụ vẫn có ý giận...Nhưng vì thương con gái nên cuối cùng thuận tình trở lại Sầm Sơn khiến cho tất cả đều vui mừng. Nhưng khi mọi người đã đặt chân lên đất Sầm Sơn thì ai nấy đều ngơ ngác không thấy cụ già đâu. Nhìn ra khơi xa họ chỉ thấy thấp thoáng một mái tóc bạc trắng đang dập dềnh trên sóng biển. Bà cụ đã đến hạn về trời.
May thay cô gái đã được mẹ truyền nghề nên từ đó người Sầm Sơn mới học được cách đan lưới, đó là nghề dệt săm súc đánh moi. Dân Sầm Sơn làm ăn phát đạt, thịnh vượng dần, dân cư ngày càng đông đúc.
Cộng đồng Sầm Sơn hình thành một nếp sống mới. Hàng ngày trong từng gia đình, người chồng đi biển thả lưới, quăng chài, người vợ ở nhà vá lưới, dệt súc, chế biến tôm cá. Biết ơn cụ già, dân làng lập một ngôi nghè ở ngay mảnh đất nơi bà cụ đã ra đi. Đó là nghè Triều Dương – Nghĩa là thuỷ triều buổi sáng – ý muốn nói tới sự phong quang, tốt đẹp của vùng biển này.
Không ai biết tên bà cụ, người ta gọi bà là Bà Triều. Những tấm lưới của Bà Triều dệt nên không chỉ để đánh bắt tôm cá, mà nó còn dệt nên tình yêu, hạnh phúc của bao nhiêu chàng trai và cô gái. Bà Triều chính là Tổ sư của nghề dệt săm súc đánh moi, nghề cổ truyền của dân biển Sầm Sơn.

 

                        SM SƠN VI CÁC L HI

        Sầm Sơn là vùng đất gắn với nhiều di tích - danh thắng và những lễ hội văn hoá truyền thống lâu đời. Ở đây Chúng tôi xin trích giới thiệu một số lễ hội lớn, được nhân dân khôi phục tổ chức hàng năm trong phạm vi Thị xã.  
 
Lễ hội Bánh Chưng Bánh Dày
Thường niên, vào ngày 12 tháng 5 âm lịch, nhân dân của 4 làng thuộc xã Lương Niệm xưa tổ chức rước kiệu hội đồng, Thần linh tập trung tại sân Đền Độc Cước, tế lễ và thi làm Bánh Chưng – Bánh Dày. Đây là Lễ hội cầu mưa (Cầu vũ), cầu cho biển lặng gió êm, cầu cho thôn xóm được mùa, cho làng xóm bình yên, nhân dân vào lộng ra khơi đánh bắt được nhiều tôm cá.
Những năm gần đây, lễ hội được nhân dân Sầm Sơn khôi phục và phát triển. Vào ngày Lễ hội, kiệu của 8 làng trên địa bàn Thị xã được rước về sân trước Đền Độc Cước từ rất sớm, mỗi đoàn rước có khoảng 300 đến 400 người. Đoàn rước gồm người cầm biển hiệu dẫn đường, sau đó là nhóm người vừa đi vừa diễn trò dân gian đến kiệu làng, mâm bánh chưng bánh dày tế lễ, mâm sơn trang, ngũ quả, và sau cùng là đoàn người già, trẻ, gái, trai ăn vận quần áo truyền thống, khăn xếp áo the. Ở Làng núi và Làng Cá lập còn có đôi nam thanh nữ tú, rước theo bộ quân cờ để diễn trò múa trao quân cờ trước khi khai mạc Lễ hội. Thông thường trong chương trình Lễ hội, ngoài màn tế Thần (Tế chung cho Lễ hội), ban tổ chức Lễ hội còn tổ chức thi Tế giữa các làng, thi đi Cà kheo, thi hát dân ca, Hội vật, cờ người...
Đặc sắc và sôi động nhất là chương trình thi làm bánh chưng, bánh dày tại chỗ. Mỗi làng chọn 7 người có sức khoẻ và kinh nghiệm, vận trang phục truyền thống, mang theo một thúng nếp đã được ngâm sẵn, cùng các vật dụng như: cối đá, chày gỗ, mâm đồng đặt bánh, nước sạch và củi lửa. Sau tín hiệu phát lên của Ban tổ chức, chương trình thi làm bánh bắt đầu, lửa bếp được nhóm lên, các làng thi nhau hông xôi, dã xôi, nặn bánh trong tiếng nhạc và âm thanh của trống dục, tiếng reo hò cổ vũ của nhân dân các làng cùng du khách. Mỗi làng làm 2 bánh dày thi, mỗi bánh thường có đường kính 30cm, đỉnh cao 10cm đặt trên mâm đồng (Bánh này không tế lễ). Ban tổ chức sẽ căn cứ điều lệ dự thi để xem xét, chấm điểm. Làng nào có bánh mịn, đẹp, đảm bảo kích thước nhất sẽ đạt giải nhất; điểm thi làm bánh sẽ được cộng vào điểm chung của các môn thi khác để xếp giải toàn đoàn. Cũng có năm theo yêu cầu của Ban tổ chức Lễ hội và nguyện vọng của nhân dân thi làm bánh dày to, chiếc bánh lớn nhất được làm tới 300kg gạo.
Nhiều năm qua, Lễ hội bánh Chưng Bánh Dày đã trở thành nội dung không thể thiếu và sôi động nhất trong Lễ hội Văn hoá Du lịch Sầm Sơn hàng năm, thu hút hàng ngàn du khách từ bốn phương về chiêm ngưỡng và tham gia Lễ hội.
Lễ hội cầu ngư
(Lễ hội đua thuyền – Bơi chải )
Đây là Lễ hội Văn hoá thể thao truyền thống của dân vùng biển Sầm Sơn, được tổ chức vào ngày Rằm tháng 5 âm lịch. Trước đây thường có 4 làng trong xã Lương Niệm tham gia. Lễ hội thường được tổ chức ở cửa Hới, nơi dòng Sông Mã từ ngọn nguồn non cao đổ về gặp biển. Theo các tài liệu nghiên cứu của Tiến sỹ Hoàng Minh Tường, có năm nhân dân Sầm Sơn tổ chức đua bè mảng từ mũi Gầm (Hòn Cổ Dải) tới Bến xứ (Địa phận xã Quảng Tường – Phường Trung Sơn ngày nay) với tổng chiều dài đường đua cả đi và về dài 3km. Người dân 4 làng tổ chức đua thuyền để tỏ lòng tôn kính vị Thần biển, Thần Mặt Trăng - Độc Cước đã phù hộ chở che cho cuộc sống của họ gắn với nghề khai thác đánh bắt hải sản. Trong ngày hội đua thuyền, các làng rước kiệu Thần của làng mình xuống thuyền, mỗi thuyền một kiệu rồi xuôi thuyền ra giữa dòng sông và tế lễ. Khi tế lễ xong thì cuộc đua chính thức bắt đầu. Mỗi thuyền đua 16 người, ăn vận đồng phục đồng mầu, trong đó có một người chỉ huy, một người cầm lái, còn lại là các tay bơi, họ đều là những thanh niên trai tráng, nhanh nhẹn, thông thạo luồng lạch.
Đội bơi của mỗi làng mặc một màu quần áo khác nhau: Xanh - Đỏ – Vàng ...
Trên chít khăn mỏ rìu, lưng thắt khăn màu đỏ, hiệu lệnh phát ra, các thuyền đua lướt tới, mỗi thuyền phải bơi đủ 4 lượt (2 lượt đi ; 2 lượt về). Thuyền nào về đích trước thì dành phần thưởng bằng mấy vuông vải lụa, rượu và một ít tiền; phần thưởng tuy không lớn nhưng thuyền làng nào về đích sớm thì năm đó sẽ được Thần phù hộ cho làm ăn phát đạt. Các làng sau khi nhận giải thưởng thì đem lễ vật đến Đền tạ Thần, rồi chia phần thưởng cho mọi người, mỗi người một miếng vải lụa nhỏ, một hớp rượu để lấy phước lộc cho cả năm.
Kế tục truyền thống ấy, hàng năm Lễ hội Cầu Ngư được tổ chức tại Cảng Hới phường Quảng Tiến. Chủ yếu để trai tráng các khu phố thuộc Phường Quảng Tiến đua tài bằng những chiếc thuyền rồng lớn hơn xưa, số tay bơi mỗi thuyền cũng nhiều hơn ( Từ 23 đến 25 người ), có năm Tỉnh Thanh Hoá và Thị xã Sầm Sơn tổ chức Lễ hội Cầu Ngư mở rộng, mời thêm một số phường xã trên địa bàn Tỉnh và Thị xã cùng tham gia. Từ năm 2008, Lễ hội Cầu Ngư Quảng Tiến đã được Chủ Tịch UBND Thị xã Sầm Sơn Quyết định nâng cấp thành Lễ hội Cầu Ngư toàn Thị xã.
 
Lễ hội làng Lương Trung
Theo các tài liệu của nhà nghiên cứu Văn hoá Hoàng Tuấn Phổ – Lê Kim Lữ và Tiến sỹ Hoàng Minh Tương; võ vật vốn có gốc từ Làng Lương Trung, gắn với vai trò một quan võ Thời Lê: Đường Công – Quang Lộc (Người làng Bồng Báo – Vĩnh Lộc ngày nay). Người đã có công giúp vua Lê đánh thắng giặc, rồi kéo quân về khai dân, lập ấp và mở lò võ vật làng Lương Trung. Vào dịp tế lễ Thần Độc Cước và Lễ hội rước Hội Đồng Thần Linh của các làng thuộc xã Lương niệm (16 – 17 tháng giêng hàng năm), hội vật được tổ chức dưới chân Đền Độc Cước để tưởng nhớ công đức các Vị Thần, vừa thể hiện tinh thần Thượng Võ của cư dân Làng Biển.
Múa Rồng, Lân, sư tử trong lễ hội Bánh trưng, bánh dày Sầm Sơn
Những năm gần đây, Lễ hội làng Lương Trung được UBND Phường Trung Sơn tổ chức vào dịp 17 tháng giêng hàng năm. Ngoài phần rước kiệu và tế lễ, Ban tổ chức lễ hội phát triến phong phú, đa dạng phần hội như: Hội vật, kéo co, đánh cờ Tướng, cờ người, thi hát dân ca và thi tìm hiểu lịch sử truyền thống quê hương, tạo điều kiện để nhân dân trong vùng được thể hiện nét văn hoá tâm linh góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Phát huy truyền thống văn hoá ngàn đời của cư dân vùng biển Sầm Sơn, ngày nay mỗi di tích lịch sử văn hoá gắn liền với những giá trị lịch sử, văn hoá và kiến trúc các triều đại Lý – Trần – Lê – Nguyễn... gắn liền những huyền thoại, những thiên tình sử đậm chất nhân văn, say đắm lòng người, được nhân dân các làng thôn, phường xã tổ chức đều đặn hàng năm như Lễ hội Bà Triều, Lễ hội đền Lộc Trung, Lễ hội Làng Vạn, Lễ hội kỳ phúc, Lễ hội Cỗ oản, Lễ hội Đền Đệ Tam - Hoàng Minh Tự ...; vừa mang yếu tố tâm linh, vừa mang giá trị như một nguồn động lực thu hút nhân dân và du khách bốn phương về Sầm Sơn tham quan – nghỉ mát – tắm biển; Tạo nên sự hoà quyện giữa văn hoá vật chất với văn hoá tinh thần, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân, từng bước xây dựng Đô thị Du lịch Biển Sầm Sơn Giầu - Đẹp – Văn minh và Hiện đại./.

 

BIỂN SẦM SƠN
NƠI GIỮ GÌN TUỔI THANH XUÂN CỦA BẠN
 
                                                                                                                                                         
Không phải ngẫu nhiên, từ năm 1907 và trước đó, người Pháp đã chọn Sầm Sơn và bãi biển Sầm Sơn làm nơi nghỉ dưỡng, phục hồi sức khoẻ và tăng cường thể lực cho bộ máy cai trị người Pháp và quan lại triều Nguyễn. Sầm Sơn với lợi thế sơn thuỷ hữu tình, khí hậu ôn hoà lại có nhiều danh thắng, di tích nhất là giá trị của bãi tắm đối với sức khoẻ đã thu hút sự quan tâm của người Pháp. 
         
         Sầm Sơn là vùng đất cổ được thiên nhiên ban tặng, có sông, có biển, có núi, có rừng, có những di tích văn hoá, lịch sử gắn với cảnh quan tuyệt đẹp và những truyền thuyết, huyền thoại say đắm lòng người.
          Chỉ tính về tài nguyên biển, bãi biển Sầm Sơn dài 9km, từ cửa Hới (sông Mã) đến Vụng Tiên (Vụng Ngọc). Trong đó 6km có thể làm bãi tắm. Biển ở đây trong xanh; nồng độ muối dưới 30%0, ngoài ra còn có Canxidium và nhiều khoáng chất khác có tác dụng chữa bệnh khi tắm. Bãi biển rộng, thoải, cát sạch, mịn, sóng vừa phải … có sức chứa hàng vạn người tắm cùng lúc.
        Bãi biển nội thị có độ dài 2,8 km, rộng 80 – 100m, cát nhỏ từ 0,2 – 0,5 mm chiếm 80 – 85 %, cát lớn hơn 1mm chiếm 15 – 20%; mùn sét nhỏ hơn 1%, thực vật nổi trong nước dưới 50g/m3, nước trong quanh năm; sóng có độ cao trung bình 0,25 – 0,35m, mạnh vào mùa đông, mùa mưu bão đến cấp 6,7.
Bãi biển khu du lịch sinh thái Quảng Cư có độ dài 4,3km, rộng 100 – 200m, cát loại nhỏ 0,2 – 0,5 mm chiếm 90 – 95%, mùn sét dưới 5%, độ mặn mùa hè 28%0 – 30%0, mùa đông 30%0 – 32%0.
 
          Bãi Nix, bãi Lãn: có độ dài 1,2km, rộng 40 – 50 m, cát nhỏ 0,2 – 0,5 mm chiếm 70% - 80%, cát lớn hơn chiếm 20% - 30%, có đá cọi và vỏ sò. Độ mặn mùa hè 30%0, mùa đông dưới 30%0. Sinh khối dưới 50g/m3, nước trong quanh năm. Sóng vỗ trung bình 0,25 – 0,45m, mạnh vào mùa đông, mùa mưa.
 
Bãi Vụng Tiên (Vụng Ngọc) có chiều dài 0,8km, rộng 40 – 80m, cát nhỏ 0,2 – 0,5mm, chiếm 75%- 80%, cát lớn hơn 1mm chiếm 20% - 35%, dộ mặn 30%0. Sinh khối thực vật dưới 50g/m3, nước trong quanh năm.
Về thuỷ triều, theo chế độ nhật chiều, mùa hè lên lúc 7h, xuống lúc 14h – 16h, mùa đông ngược lại, xuống lúc 7h, lên lúc14h – 16h.
          Khu du lịch sinh thái xã Quảng Cư                  
          Về khí hậu, đây là yếu tố chi phối mạnh mẽ hoạt động du lịch hàng năm. Qua nghiên cứu các chỉ số khí hậu, các nhà khoa học trong nước và tổ chức du lịch thế giới (OTM) đã đưa ra phương pháp đánh giá mức thích ứng của con người đối với khí hậu qua nhiệt độ và độ ẩm tương đối ở Sầm Sơn là 210 ngày/năm (đây là chỉ số đạt vào loại cao ở Việt Nam).
          Sầm Sơn chịu ảnh hưởng của nhiều khí hậu miền Bắc Việt Nam, đầu mùa hạ nắng, khô và ít mưa do ảnh hưởng của gió Lào. Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 23 độ C, nóng nhất là tháng 6, trung bình 29 – 32 độ C, hàng năm có 2 tháng nhiệt độ dưới 18 độ C là tháng 1 và tháng 2 (Dương lịch).
          Về gió, chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa hè từ tháng 3 đến tháng 11 có gió Đông Nam, còn lại là gió Nồm Nam; mùa đông từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau là gió mùa Đông Bắc.
Về mưa, lượng mưa trung bình 1700mm – 1800mm/năm. Số ngày ảnh hưởng mưa trong năm từ 45 ngày – 130 ngày, mưa nhiều vào tháng 8,9,10.
          Về độ ẩm, thường ở mức 85%, chỉ có một khoảng thời gian ngắn vào đầu hè, do ảnh hưởng của gió Lào nên thời tiết khô hanh, oi bức. Tháng 11 và 12 do có gió lạnh nên độ ẩm giảm, có ngày dưới 50%.
          Nhìn chung, khí hậu ở Sầm Sơn có sự phân chia rõ rệt, nhưng do tác động điều hoà của biển nên khí hậu tương đối dễ chịu, mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông. Có thể nói, khí hậu ở Sầm Sơn khá tốt cho tắm biển, thăm quan và nghỉ dưỡng.
          Từ lợi thế đó, năm 1989, thị xã Sầm Sơn đã tổ chức lễ hội du lịch lần đầu tiên với chủ để “ Sầm Sơn - Sức khoẻ - Kinh tế - Bạn bè”; Lễ hội đã thu hút sự chú ý của du khách trong và ngoài nước.
 
          Một tác giả người Pháp trước đây đã viết: “Bãi biển Sầm Sơn cách thị xã Thanh Hoá (nay là thành phố Thanh Hoá) 16km, có đường rất đẹp, đi ô tô khoảng nửa giờ là đến bãi biển, có người tới nghỉ mát đông nhất trên bờ biển Đông Dương. Các biệt thự, khách sạn mọc trên mỏm núi hoa cương hay dưới bãi cát giữa các rặng phi lao chỉ cách mép nước vài ba mét”. Những điều người Pháp nói khiến cho biển Sầm Sơn chẳng những là nơi tắm gió, tắm nắng, tắm nước, một khu nghỉ mát tốt, mà còn là viện điều dưỡng thiên nhiên có tác dụng nâng cao sức khoẻ và chữa khỏi một số bệnh. Đây là một bãi tắm tốt nhất để phục hồi sức khoẻ, thích hợp với sự nghỉ ngơi. Nhưng hấp dẫn nhất đối với người tắm biển ở đây là núi. Đi theo con đường hẻm đến biệt thự Núi Đá và trèo lên đỉnh, chúng ta rẽ tay phải sẽ được thấy những cái kỳ lạ về địa chất, đá chồng, đá hình răng cọp nổi lên như một đài kỷ niệm mang nhiều hình dạng.
Sầm Sơn, thị xã du lịch nghỉ dưỡng kỳ thú với một kho báu vô giá mà thiên nhiên ban tặng. Đó là gió mát, nắng lành, cát mịn, nước trong. Người Sầm Sơn với bản tính thật thà, mộc mạc luôn mến người, quý khách. Du khách về đây có cảm giác khoan khoái, bình yên trước sự trong lành của biển cả./.

 

M THC DU LCH SM SƠN
                  
Đến Sầm Sơn du khách được thả hồn trong tắm biển, được phơi mình đùa vui trên bãi cát dưới ánh nắng mặt trời và được thưởng thức những món ăn đặc sản - ẩm thực Sầm Sơn đã được niêm yết trên thực đơn của mọi khách sạn và nhà hàng.
Đến Sầm Sơn một lần, hai lần và nhiều lần trong năm Du khách đều bắt gặp những món ăn đồng quê đặc sản theo vùng miền hay các món ăn Á, Âu mà bất cứ khu du lịch nào trên đất nước Việt Nam đều có. Nhưng đọng lại trong lòng Du khách đó là “ Đặc sản biển Sầm Sơn ”.
Những món ăn được chế biến từ các loài cá quý hiếm như: “ Thu, Giang, Chà, Lụ … ” hay từ các loài tôm, các loài mực tươi, mực khô, các món ăn được chế biến từ cua, ghẹ biển … rất hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.
Gỏi cá, gỏi tôm Sầm Sơn được chế biến từ cá tươi, tôm tươi từ biển Sầm Sơn. Người dân Sầm Sơn từ xưa đã có cách chế biến cá, tôm sống ăn cùng các loại rau có hương vị chua, chát như: quả sung, quả chuối xanh, khế chua và các loại rau lá như vọng cách, đinh lăng … thường được gọi là gỏi. Ngày nay gỏi cá, gỏi tôm vẫn là món ăn được nhiều người ưa thích nhưng cách chế biến và thưởng thức đã được nâng lên ngang tầm với các món ăn đặc sản khác.
Gỏi cá, gỏi tôm Sầm Sơn được các khách sạn, nhà hàng lên thực đơn theo mùa (nhất là mùa hè hàng năm ). Hàng ngày du khách thưởng thức các món gỏi cá, tôm vào buổi trưa hoặc buổi chiều trong ngày. Du khách thưởng thức món gỏi cá, tôm bằng cách lấy lá, rau thơm làm gỏi, cuộn một miếng gỏi cá tươi vào giữa, chấm ngập vào bát nước chẻo (Cũng được chế biến từ cá làm gỏi). Ăn gỏi cá, gỏi tôm rất ngon, cùng với các loại rượu mạnh (Rượu trắng) khi ăn gỏi, du khách cảm nhận hương vị ngọt thơm của tôm tươi, cá tươi có vị mằn mặn, cay cay và béo của chẻo hoà quện với mùi vị của các loại rau thơm.
Mực khô: cũng là sản phẩm được nhiều Du khách ưa chuộng. Chưa có điều kiện thưởng thức Mực khô Sầm Sơn thì chưa thấy hết sự thú vị của món mực nướng. Mực khô Sầm Sơn khác với mực khô của các Tỉnh khác trong cả nước. Có thể đặt một, vài kg mực khô tại chợ Đầm - Nha Trang hay chợ Bến Thành - thành phố Hồ chí Minh xen lẫn với mực khô các vùng miền thì các nhà thương nhân sẽ phát hiện ra ngay: “Đây là Mực khô Sầm Sơn - Thanh Hoá”. Thật vậy, mực khô Sầm Sơn, mình dầy hơn, khi nướng xong, xé ra thơm phức, chấm với tương ớt, nước mắm tỏi - uống rượu, bia thấy có vị thơm - ngọt rất riêng biệt. Từ lâu mực khô Sầm Sơn đã nổi tiếng và thôi miên nhiều Du khách đến Sầm Sơn tắm biển, nghỉ mát và tham quan danh thắng. Có thể nói thưởng thức mực khô Sầm Sơn và làm quà biếu gia đình, người thân và bạn bè gần như là lộ trình của mọi Du khách đi du lịch Sầm Sơn - Thanh Hoá. Ngoài mực khô nướng, các món ăn về mực như: Mực tươi xào, mực chiên, mực nhồi thịt, mực luộc … cũng rất hấp dẫn Du khách.
Cua biển: sản phẩm đặc trưng của vùng biển Sầm Sơn đã từ lâu nổi tiếng và được Du khách trong và ngoài nước ưa thích. Cua biển Sầm Sơn có vị ngon đặc biệt khác với các vùng miền trong toàn quốc. Các khách sạn, nhà hàng ở Sầm Sơn có nhiều cách chế biến các món cua biển như: cua phá xí (hay còn gọi là mộc cua biển), cua rang muối, cua hấp, cua luộc, xúp cua biển … Du khách ngoài việc thưởng thức các món cua biển trong những ngày nghỉ tại Sầm Sơn, khi trở về nhà nên mua cua biển về làm quà tặng người thân, gia đình và bạn bè cũng thật hấp dẫn.
Du khách đến Sầm Sơn, tất nhiên sẽ được đi tham quan vãn cảnh các vùng trong Tỉnh và được thưởng thức những đặc sản xứ Thanh như: Bánh gai Tứ Trụ, chè lam Phủ Quảng, nem chua Thanh Hoá, gỏi cá Sầm Sơn, rượu nếp Nga Sơn hay cá mè Sông Mực, bánh chưng Cầu Hậu, thịt dê Quán Lào … Có thể nói ngay tại Sầm Sơn, du khách có nhu cầu thưởng thức những đặc sản xứ Thanh cũng được đáp ứng nhu cầu để lúc rời xa nỗi nhớ lại tìm về.
Du khách trong và ngoài nước đều biết Sầm Sơn là một Đô thị du lịch cách thành phố Thanh Hoá 16 km về phía Đông. Đây là một trong những khu du lịch nổi tiếng của Việt Nam từ đầu thế kỷ 20. Với bãi biển đẹp và nổi tiếng Đông Dương gắn với núi Trường Lệ, với những di tích danh thắng đậm nét văn hoá và huyền thoại nối quá khứ với hiện tại và tương lai. Cùng với nhiều dự án đã và đang được triển khai về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và hệ thống dịch vụ du lịch đồng bộ với những sản phẩm du lịch - ẩm thực Sầm Sơn sẽ mang lại cho du khách những bổ ích và lý thú trong mỗi chuyến đi du lịch Sầm Sơn./.

 

SẦM SƠN ĐẾN CÁC ĐIỂM HẸN
 
                                                                                                                                    
Cách đây hơn 100 năm (1907) Sầm Sơn đã được người Pháp lựa chọn là nơi nghỉ dưỡng, tắm biển. Tuy nhiên, như vốn dĩ của nó, với phong cảnh “Sơn thuỷ hữu tình”, với vẻ đẹp hiếm có mà thiên nhiên ban tặng Sầm Sơn đã là điểm hội tụ của biết bao tao nhân mặc khách như: Đặng Huy Trứ, Tế Hanh, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh… và cũng chính nơi đây như “trời xe duyên xui khiến anh gặp em” đã là điểm hội tụ, kết nối bạn bè.
Trong khuôn khổ có hạn, chúng tôi xin giới thiệu một số Tua du lịch từ Sầm Sơn đến với bạn bè.
1.     Tua Sầm Sơn - Thành Nhà Hồ - Suối cá Cẩm Lương, Cẩm Thủy
6h00. Xe đ­ưa quý khách rời Sầm Sơn đi thăm hang cá thần ở xã Cẩm Lương huyện Cẩm Thủy - một cảnh quan thiên nhiên độc đáo cách Sầm Sơn 100 km. Sau khi ăn tr­ưa, quý khách trở về thăm Thành Tây Đô ở huyện Vĩnh Lộc - một công trình quân sự bằng đá duy nhất ở Việt Nam, đ­ược xây dựng cách đây hơn 600 năm. Tìm hiểu địa thế và cấu trúc cũng như­ quá trình xây dựng thành. Chiều xe đưa đoàn về Sầm Sơn tắm biển, chia tay, kết thúc chương trình .
11h00: Quý khách ăn cơm trưa tại Cẩm Thuỷ.
Thành Nhà Hồ:
Đặc điểm: Thành do Hồ Quý Ly xây dựng vào năm 1397 bằng những khối đá xanh rất lớn và kiên cố. Thành nhà Hồ hay còn được gọi là thành Tây Ðô. Thành có hình vuông, mỗi cạnh dài gần 500m, được xây bằng đá xanh cao khoảng 4,2m. Thành có 4 cửa. Cửa phía Nam rất giống cửa phía Nam thành Thăng Long. Quanh thành có hào sâu, phía trong thành là cung điện uy nghi lộng lẫy. Từ cửa Nam xây đường lát đá thẳng đến đàn Nam Giao ở Ðốn Sơn.Sau khi xây xong thành, Hồ Quý Ly đã dời triều từ Thăng Long về Tây Ðô. Nhưng nhà Hồ đã tồn tại được 7 năm (1400-1406).Trải qua hơn 6 thế kỷ cho đến nay toà thành còn lại cửa phía Nam với 3 cổng vòm cuốn bằng đá xanh. Khung tường thành còn lại là những bức tường bằng đất.
Suối cá Cẩm Lương 
Ở đây có đàn cá đông tới hàng ngàn con bơi lội tung tăng dưới lòng suối. Người dân địa phương coi đây là đàn cá “thần”, không bao giờ đánh bắt mà luôn tự nguyện bảo vệ đàn cá với mong ước thần linh ban cho mưa thuận gió hòa. Trải qua đoạn đường dài gần 100km từ thành phố Thanh Hóa đến huyện Cẩm Thủy, một con đò sẽ đưa du khách sang tả ngạn sông Mã để đến thăm hang cá Cẩm Lương (hay còn gọi là suối Cá "thần"), một trong những thắng cảnh thiên nhiên có vẻ đẹp độc đáo của vùng đất xứ Thanh.  Hang cá là một hồ nước thật rộng lớn nằm trong lòng dãy núi Trường Sinh. Ðàn cá "thần" đông hàng ngàn con, tung tăng bơi lội dưới suối đổ dồn về phía bờ như để chào đón du khách đến thăm. Cá "thần" trông thật đẹp mắt, da cá óng mượt sắc vàng lẫn đen như khoác lên mình một lớp gấm quý; vây và môi cá hồng tươi rực rỡ. Cá "thần" loại lớn chỉ ra khỏi hang vào những ngày nước lên. Cá sinh sản ở trong hang, cá con lớn đến tầm từ 1- 2kg thì theo đường cửa hang bơi ra suối Ngọc. Ðàn cá chỉ bơi lội ở suối Ngọc chứ không mấy khi bơi ra khỏi ngã ba suối, nơi có đền thờ Tứ phủ Long vương (Vị thần có công đánh thủy quái bảo vệ dân làng đã được Ngọc Hoàng phong Thần và chức Tứ phủ Long vương).
 Nhân dân lập đền Ngọc bên bờ suối để tưởng nhớ công lao của Tứ phủ Long vương. Cũng từ đó, suối Ngọc trước cửa đền có đàn cá "thần" hàng ngàn con ngày đêm về chầu thần và canh gác nơi đền Ngọc. Hàng năm, vào ngày tế lễ Tứ phủ Long vương, ông từ làm lễ xin thần và chờ khi chiều xuống, đàn cá vào hang, con nào còn sót lại ở suối nghĩa là tự dâng mình làm lễ hiến sinh. Già làng mang cá ra đền cúng tiến thần linh rồi mời các cụ trong làng cùng hưởng. Lệ làng đến nay vẫn duy trì, do đó, đàn cá ở suối Ngọc không bao giờ vơi, mỗi ngày đông hơn và to ra. Bảo vệ đàn cá "thần" là việc làm tự nguyện trong tâm thức của bà con bản Mường nơi đây, với ước muốn thần linh ban cho mưa thuận gió hòa, đồng ruộng tốt tươi.
2. Tua Sầm sơn - Lam Kinh - Đập Bái Th­ượng.
6h00: xe đ­ưa quý khách rời Sầm Sơn đi tham quan khu di tích Lam Kinh (huyện Thọ Xuân ), nơi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa cùng toàn dân 10 năm “nếm mật nằm gai “ đánh giặc Minh & là nơi tôn miếu thờ Nhà Lê. Đoàn thắp hương tưởng nhớ người anh hùng dân tộc Lê Lợi tại đền thờ Vua Lê Thái Tông.
11h00: ăn trưa và nghỉ ngơi. Sau đó, xe đ­ưa đoàn đi thăm đền thờ Lê Lai ở Ngọc Lặc – một công thần nhà Lê đã liều mình cứu chúa. Tham quan đập Bái Thượng và ngắm cảnh non n­ước hữu tình. Đây là công trình thuỷ nông lớn nhất Đông Dương được xây dựng cách đây 100 năm. Chiều xe đưa đoàn về Sầm Sơn tắm biển, chia tay, kết thúc chương trình .
Khu di tích Lam Kinh, huyện Thọ Xuân
        Khu di tích lịch sử Lam Kinh nằm trên địa bàn xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, cách thành phố Thanh Hóa 51 km về phía Tây Bắc. Đây là một địa danh lịch sử được Bộ Văn hóa – Thông tin trước đây xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1962.Được xây dựng bởi Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), thành Lam Kinh còn có tên là Tây Kinh. Nơi đây có lăng Vua Lê Thái Tổ và bia Vĩnh Lăng mô tả ngắn gọn, cô đọng toàn bộ sự nghiệp của Vua Lê Thái Tổ do Nguyễn Trãi biên soạn. Lam Kinh, nơi bắt đầu của thời kỳ hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, gắn liền với bản anh hùng ca đánh đuổi giặc Minh, thu giang sơn về một mối. Lam Kinh nằm trên đất huyện Thọ Xuân, một huyện đã sinh cho dân tộc Việt Nam hai đời Vua Lê (Tiền Lê, Hậu Lê) – vùng đất mà cách đây gần một ngàn năm Cụ tổ của Thái Tổ Cao Hoàng đế Lê Lợi thấy chim bay về đậu quây quần thành bầy, quyết định san đất dựng nhà. Thành điện Lam Kinh phía Bắc dựa vào núi Dầu (gọi là du sơn) mặt nam nhìn ra sông – có núi Chúa làm tiền án, bên tả là rừng Phú Lâm, bên hữu là núi Hương và núi Hàm Rồng chắn phía Tây. Khu Hoàng thành, cung điện và Thái miếu ở Lam Kinh được bố trí xây dựng theo trục Nam – bắc trên một khoảng đồi gò có hình dáng chữ vương. Bốn mặt xây thành có chiều dài 314m, bề ngang 254m, tường thành phía Bắc hình cánh cung có bán kính 164m, thành dày 1m.
 Về Lam Kinh du khách sẽ được thưởng thức hương vị cay cay ngọt ngọt của chè lam Phủ Quảng, một loại bánh làm bằng bột gạo nếp, mật mía, trộn lẫn lạc với gừng và được nếm cái dẻo quạnh, đen nhanh nhánh của bánh gai Tứ Trụ, cáI béo ngậy, giòn thơm của cá rô Đầm Sét rán vàng, những sản phẩm nổi tiếng của Lam Kinh.
           Ở xứ Thanh người ta không nói “đến” Lam Kinh mà thường nói “về” Lam Kinh. Về nhà, về với khu di tích lịch sử, về với nơi khởi nguồn của những chiến tích hào hùng. Về Lam Kinh nơi diễn ra Hội thề Lũng Nhai. Hàng năm vào dịp tháng 8 âm lịch, lễ hội Lam Kinh lại bắt đầu. Ngày giỗ của Lê Lợi (22/8/1433) được cử hành trọng thể.
           Tiếng cồng chiêng âm vang rừng núi. Các điệu múa dân gian: Múa Xéc bùa, múa đèn Đông Anh, múa rồng uyển chuyển bay lượn. Các trò chơi: Ném còn, dựng cây nêu, hát trò Xuân Phả náo nức lòng người. Hiện tại khu điện Lam Kinh đang được đầu tư tôn tạo để khôi phục lại một Tây kinh xưa, góp phần khôi phục giữ gìn nét văn hóa truyền thống, kiến trúc độc đáo của Việt Nam thế kỷ thứ XV, đồng thời cũng là một điểm đến của du khách trong và ngoài nước.
       
  Đền Lê Lai ( còn gọi là đền Tép )
          Đền thờ Lê Lai thuộc địa phận làng Tép, xã Kiên Thọ, Ngọc Lặc Thanh Hóa, cách khu di tích Lam Kinh 5 km về phía Tây.
         Lê Lai là một tướng giỏi của nghĩa quân Lam Sơn. Trong một lần bị quân thù vây hãm không còn lối thoát, Lê Lai đóng giả Lê Lợi “Liều mình cứu chúa” và hy sinh anh dũng để bảo toàn lực lượng cho nghĩa quân. Ghi nhớ công ơn của ông, Lê Lợi cho lập đền thờ ông ở làng Tép ( Quê hương Lê Lai) và lệnh cho quân thần sau này làm giỗ Lê Lai trước ngày giỗ của mình một ngày.
          Ngày nay, sau nhiều lần trùng tu đền Lê Lai ngày càng trở nên khang trang đẹp đẽ Ngoài ngày giỗ theo ý Lê Lợi 21/8 âm lịch, chính hội thờ Lê Lai vào ngày mùng 8 tháng giêng âm lịch. Đây là một ngày hội lớn của nhân dân địa phương, thu hút hàng ngàn du khách đến dâng hương, tế lễ.
         3. Tua Sầm sơn - Đền Bà Triệu - Động Từ Thức - Nhà Thờ Phát Diệm
06h00: xe đón đoàn đi viếng thăm đền Bà Triệu, thắp h­ương tưởng nhớ người Nữ anh hùng dân tộc có công đánh đuổi giặc Ngô xâm lược trong những năm đầu Công nguyên (243), với câu nói nổi tiếng “ Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ chém cá kình ở biển Đông, chứ không muốn quỳ gối, khom lưng làm tỳ thiếp cho người”. Sau đó đoàn đi đến huyện Nga Sơn tham quan động Từ Thức huyền ảo, từng được đánh giá đẹp vào bậc nhất Việt Nam, động gắn liền với truyền thuyết Từ Thức gặp Tiên. 
11h00: Đoàn ăn tr­ưa, nghỉ ngơi.Tiếp đó, đoàn lên xe đi Ninh Bình tham quan nhà thờ đá Phát Diệm. Chiều xe đưa đoàn về Sầm Sơn tắm biển, chia tay, kết thúc chương trình tham quan
Đền Bà Triệu, huyện Hậu Lộc
Đền Bà Triệu (Triệu Nữ Vương từ) tọa lạc trên núi Bân (còn gọi Bân Sơn, núi Gai) thuộc thôn Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội 137 km về phía Nam, ngay sát quốc lộ 1A. Đền trông về hướng Tây. Đền gồm cổng tam quan dẫn tới một hồ sen nhỏ và sau đó tới Khu chính của Đền có kiến trúc “nội công ngoại quốc” bao gồm: Tiền đường gồm 5 gian với những cột đá mài vuông cạnh, sau nhà Tiền đường là sân Thiên Tỉnh, hai bên sân là hai dãy nhà Trung đường, Hậu cung gồm 3 gian ở phía sau cùng của sân Thiên Tỉnh và trên nền cao hơn dựa lưng vào núi.
 
Động Từ Thức
 
 
 
Đền thờ Mai An Tiêm
         Thuộc xã Nga Phú huyện Nga Sơn. Cách huyện lỵ Nga Sơn 5km về phía Đông Bắc.  Ngôi đền nhỏ đơn sơ nép mình bên sườn núi nhưng chứa đựng cả một huyền thoại đẹp được lưu truyền từ bao đời nay. Mai An Tiêm là người có công khai phá xây dựng đất Nga Sơn từ buổi bình minh của đất nước, dưa hấu Mai An Tiêm là sản vật rất nổi tiếng ở Nga Sơn. Hàng năm lễ hội Mai An Tiêm diễn ra tưng bừng náo nhiệt từ ngày 12 - 15 tháng 3 âm lịch.
 
          Cửa Thần Phù
         Trước đây Vua Trần dẹp giặc phương Nam, đến đây sóng to gió lớn không tiến lên được, nhờ có một đạo sĩ La Viện người địa phương dẫn đường nên mới thoát hiểm. Thắng giặc trở về La Viện đã mất, Vua cho lập miếu thờ và phong là Áp Lãng Chân Nhân Tôn Thần. Núi non, sông nước tạo cho nơi đây thắng cảnh hùng vĩ nên thơ. Rẽ sang nhánh sông Hoạt, ta gặp Đọng Lục Vân, chúa Trịnh Sâm đã đến viếng thăm, bút tích còn lưu lại là 4 bài thơ còn ghi trên vách đá. Bia chữ thần trên vách đá cạnh bờ sông Hoạt là bút tích của Trịnh Sâm (khắc năm 1771). Thì dòng sông Hoạt ta còn thấy hình ông Lã Vọng câu cá trên núi. Đi một quãng nữa tới động Bạch Ác, một động đẹp có chùa Phật ở trong, xưa kia nhiều vua, chúa đã tới tham quan và để lại nhiều bút tích là các bài thơ được khắc trên vách đá.
 
          Di tích lịch sử Chiến khu Ba Đình
           Chiến khu Ba Đình thuộc xã Ba Đình, cách trung tâm huyện Nga Sơn 3 km về phía Tây - Bắc. Đây là di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp quốc gia. Với lòng yêu nước và tinh thần quả cảm, chỉ với những vũ khí thô sơ mà tại đây nghĩa quân cần Vương và nhân dân ba làng là làng Mậu, làng Thượng, làng Mỹ Khê đã dũng cảm đánh bại nhiều đợt tấn công của giặc Pháp xâm lược. Địa danh Ba Đình này đã vinh dự được Bác Hồ đặt thành tên gọi của Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) lịch sử.
 
Nhà thờ Phát Diệm
 Nhà thờ đá Phát Diệm  là một quần thể các nhà thờCông giáo rộng khoảng 22 ha, nằm tại thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội khoảng 120 km về hướng Nam. Nhà thờ đá Phát Diệm được báo chí đánh giá là một trong những nhà thờ đẹp nhất Việt Nam[. Đây là một công trình lớn, là nhà thờ chính tòatrung tâm của giáo phận Phát Diệm rộng lớn ở phía bắc Việt Nam. Nhà thờ được xây dựng toàn bằng đá và gỗ. Nhà thờ Phát Diệm được khởi công vào năm 1875 và đến năm 1898 thì cơ bản hoàn thành. Nét độc đáo của công trình này ở chỗ: mặc dù là nhà thờ Công giáo nhưng được mô phỏng theo những nét kiến trúc đình chùa truyền thống của Việt Nam.. Quần thể kiến trúc này được xây dựng bởi Linh mục Phêrô Trần Lục (còn gọi là Cụ Sáu - Linh mục ở giáo phận Phát Diệm từ năm 1865) và các giáo dân Công giáo trong hơn 30 năm
4.Tua Sầm sơn - Khu du lịch sinh thái Bến En.
 6giờ00: xe đón đoàn tại nơi tập kết đi thăm V­ườn quốc gia Bến En. Một thắng cảnh thiên nhiên còn giữ vẻ nguyên sơ của xứ Thanh, là sự kết hợp hài hòa của trời, mây, non, nước, Bến En sẽ cho quý khách hình ảnh Vịnh Hạ Long thu nhỏ. 
         Đoàn ăn trưa trong rừng. Chiều xe đưa đoàn về Sầm Sơn tắm biển, chia tay, kết thúc chương trình tham quan.
         Nằm cách thị xã Sầm Sơn 62 km về phía Tây nam, vườn quốc gia Bến En là một địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn đối với bất kỳ ai yêu thích vẻ nguyên sơ của tạo hoá. So với các Vườn quốc gia ở phía Bắc như: Ba Bể, Ba Vì, Tam Đảo, Cúc Phương .. vườn Bến En có tầm cỡ thực sự về tiềm năng du lịch sinh thái.
 Vườn Bến En trải rộng trên 2 huyện Như Xuân và Như Thanh với tổng diện tích 16.634ha, chia làm 3 khu vực chính, trong đó khu bảo tồn nguồn gien là nơi 'cấm địa' của vườn (chỉ những nhà khoa học mới được phép tìm hiểu, nghiên cứu), ở đây hệ thực vật rất phong phú với hàng trăm loài, bộ, họ (Có họ có tới 10 loài) như các loại cây lim xanh rất đặc trưng (có cây lên tới cả ngàn tuổi) cây trò trĩ và các loài thuốc nam quý … Tính đặc trưng của vườn có những nét đẹp và phong phú rất khác các vườn quốc gia khác. Hệ động vật cũng vậy, các loài quý hiếm ở đây là voi, hổ, gấu, chim …tồn tại trong 37 bộ, 96 họ, 216 giống và 309 loài, các loài Voi, Vượn má trắng, hổ ...thuộc loại quý hiếm đang được bảo vệ. Tuy nhiên, ở phân khu du lịch sinh thái dường như gần gũi với du khách hơn cả. Khu này gồm lòng hồ được hình thành bởi 4 con suối và con sông Mực có diện tích rộng khoảng 3.500 ha, nước bốn mùa xanh biếc, tĩnh lặng trong quần thể không gian trời, mây, non, nước hữu tình. Du khách sẽ thoả lòng khi đến thăm 21 hòn đảo với những sắc thái rất khác nhau bằng các chuyến ca nô, xuồng máy ....Đặc biệt, tại đây có 8 tuyến đi du lịch trên hồ thăm các ốc đảo. Trong 8 tuyến đi (cơ bản tuỳ theo sự lựa chọn của khách) tuyến ngắn nhất là 1,5km và tuyến dài nhất 8,5km.
            Du khách có thể đến thăm đảo động vật, đảo thực vật, chiêm ngưỡng hang Dơi, ngắm cảnh hang động với nhiều hình thù kỳ lạ được sắp đặt bởi bàn tay của tạo hoá. Hơn thế nữa, du khách có thể đi vào các bản làng của người H'Mông, người Thổ uống rượu cần … hoàn toàn phù hợp với tour du lịch cộng đồng. Ở các đảo động vật, các loài thú được bảo vệ, nuôi nấng theo hình thức bán hoang dã nên mọi hoạt động sinh hoạt của nó đều tự nhiên đến lý thú. Trong đảo thực vật bao gồm tất cả các loài cây có tên ở Việt Nam, được trồng phân theo từng loại, từng bộ, họ … đã phục vụ rất tốt cho các nhà khoa học, ngành lâm nghiệp, môi trường sinh thái và khách du lịch …
             Trên tuyến bộ bắt đầu từ trung tâm vườn đi lên khu phía Bắc, chúng ta sẽ bắt gặp những cảnh quan không kém phần hấp dẫn so với nội khu. Đó là cụm núi đá Hải Vân tồn tại song song với 21 hòn đảo trong lòng hồ, cụm di tích hang Lò Cao kháng chiến - nơi Giáo sư Trần Đại Nghĩa từng chế tạo vũ khí từ năm 1945 phục vụ kháng chiến chống Pháp. Đi xa hơn nữa, khách du lịch có thể đến Phủ Sung, Phủ Na - nơi nhân dân vẫn thường tổ chức phường hội cúng tế trời đất … Tiếp đó là quần thể thắng cảnh hang Ngọc, cây lim trăm tuổi như biểu tượng của vườn. Trong hang Ngọc, một suối nước trong vắt, theo quan niệm nếu tắm được ở đây có nghĩa là đã cởi bỏ được những tục trần nặng nhọc nhất của cuộc sống đời thường. Có lẽ chính vì thế mà hang Ngọc tuy có xa hơn một chút so với các đảo trên lòng hồ Bến En, song vẫn là điểm được khách đến đông hơn cả.
          Đến Bến En, dù là du lịch sinh thái, song nếu đặt trước vẫn có thể được hưởng những món ăn đặc sản như: món cá quả, cá mè.. rất to được bắt từ sông Mực có thể nướng hoặc luộc, hấp … Mùa hè có thể ăn thêm món trai dắt vách đá (một loại nhuyễn thể gần giống với ốc) đặc biệt mang hương vị của rừng.
        5. Tua Sầm Sơn – TP. Thanh Hóa - Bảo Tàng - Đền Lê.
6giờ 00 xe đ­ưa quý khách đi viếng thăm Thái Miếu nhà Lê với kiến trúc và nghệ thuật chạm trổ của Nghệ nhân thế kỷ XV. Thăm bảo tàng Thanh Hóa - nơi trưng bày các hiện vật gắn liền với lịch sử phát triển loài ng­ười, quá trình dựng nước và đấu tranh giữ n­ước của Dân tộc Việt Nam trên đất Thanh Hóa. Ăn tr­ưa, chiều xe đưa quý khách đi Sầm Sơn tắm biển, chia tay kết thúc chương trình.
          Thái miếu nhà Hậu Lê là nơi thờ cúng các vị hoàng đế, hoàng thái hậu cùng các vương công nhà Hậu Lê, được xây dựng vào năm 1805 (tức năm Gia Long thứ 4) trên khuôn viên nền điện Chiêu Hoà. Công trình này đã được Bộ VHTT cấp “Bằng di tích lịch sử văn hoá và kiến trúc nghệ thuật quốc gia”.
6. Tua Sầm Sơn – Tĩnh Gia.
6h 00. Quý khách lên xe thăm khu Công nghệp Nghi Sơn, huyện Tĩnh gia
11h00:  Quý khách ăn trưa và nghỉ ngơi tại bãi Biển Hải Hoà
Là huyện đồng bằng ven biển phía Nam tỉnh Thanh Hóa, cách thị xã Sầm Sơn 40km về phía Nam Tĩnh Gia hội đủ điều kiện để phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế du lịch, đó là Đảo Nghi Sơn - nơi tập trung nhiều dự án phát triển kinh tế trọng điểm của Tỉnh, có Cảng cá Lạch Bạng - Đảo Mê, Hang động Trường Lâm, Đền Quang Trung, Đền Đào Duy Từ… Nhưng thế mạnh lớn nhất để phát triển du lịch của Tĩnh Gia là bờ biển dài 42 km nằm ven theo quốc lộ 1A, rất tiện lợi cho việc du lịch biển và điều dưỡng. Biển Hải Hòa nằm cách thị trấn Tĩnh Gia 2km, cách khu đô thị mới Nghi Sơn khoảng 15 km về hướng Bắc, có bãi rộng và thoải, đây là nơi có địa thế thuận lợi để đầu tư xây dựng thành một trung tâm du lịch- dịch vụ, thu hút du khách về với vùng đất phía Nam Thanh Hoá.
7.Tua Sầm Sơn - Cụm di tích Hàm Rồng
6h30 phút. Quý khách lên xe lên ăn sáng tại Khu du lịch Hồ Kim Quy – Hàm Rồng, nghỉ ngơi 30 phút, sau đó Hướng dẫn viên sẽ đưa Quý khách tham quan Cụm di tích Hàm Rồng
11h30 phút: Quý khách ăn trưa tại khu du lịch Hồ Kim Quy Chiều Quý khách về tắm Biển tại Sầm Sơn.
Hàm Rồng, mảnh đất nổi tiếng của xứ Thanh với nhiều di tích lịch sử văn hóa và thắng cảnh. 45 năm trôi qua, kể từ ngày Hàm Rồng chiến thắng (3 - 4/4/1965), giờ đây đứng trên mảnh đất anh hùng này, du khách ít ai nghĩ rằng đây là tọa độ lửa khốc liệt thời chiến tranh chống giặc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc.
Hàm Rồng hôm nay đang từng bước chuyển mình. Nhiều công trình, trường học, nhà cao tầng mọc lên san sát ngay trên những nơi xưa kia là bãi bom. Núi đồi xưa nham nhở đạn bom nay cây xanh đã mọc lên tươi tốt. Hàm Rồng đã và đang được xây dựng thành khu lâm viên văn hóa du lịch độc đáo của tỉnh Thanh mang tên: Khu du lịch văn hóa (KDLVH) Hàm Rồng. Theo dự án, nơi đây sẽ là điểm dừng chân tiện lợi cho du khách tuyến Bắc- Nam cả bằng đường bộ (Quốc lộ 1A), đường sắt, đường thủy (sông Mã). KDLVH Hàm Rồng được thiết kế quy mô gồm nhiều hạng mục  công trình lớn với các khu chức năng: khu trung tâm, khu du lịch khảo cổ, khu vui chơi giải trí hồ Kim Quy và các công trình quanh hồ, khu cắm trại và làng văn hóa du lịch các dân tộc tỉnh Thanh. Hiện tại Công ty cổ phần du lịch Kim Quy đã đầu tư xây dựng KDLVH sinh thái hồ Kim Quy, trong đó hồ Kim Quy và các công trình quanh hồ là trung tâm vui chơi giải trí của KDLVH Hàm Rồng. Các công trình được xây dựng quanh hồ Kim Quy rộng 27 ha mặt nước gắn liền với quang cảnh tự nhiên của làng cổ Đông Sơn, núi Cánh Tiên, núi Ngọc, động Tiên Sơn, hang Mắt Rồng, đền thờ Trần Khát Chân, Lê Uy, chùa Tăng Phúc và các di tích lịch sử văn hóa của Hàm Rồng- Nam Ngạn.
Dạo quanh khu du lịch sinh thái Hàm Rồng, như lạc vào một không gian kỳ thú, Hồ Kim Quy nước trong xanh bốn bề in bóng núi Rồng. Những chiếc thuyền thiên nga bồng bềnh, nhẹ trôi. Làng cổ Đông Sơn lấp lánh trống đồng tỏa sáng tinh thần Việt. Động Tiên Sơn với chính cung, thủy cung, đầy ắp cả kho huyền thoại in dấu trên từng phiến đá, nhũ đá, măng đá lấp lánh hoa cương… Theo ông Lê Văn Luyện, Chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc CTCPDL Kim Quy thì sau 3 năm thực hiện dự án, KDLVH Hàm Rồng đã xây dựng và đưa vào sử dụng một số cơ sở  vui chơi giải trí phục vụ du khách như: Hồ Kim Quy hạ,  Động Tiên Sơn, đảo hồ, nhà thuyền, Khách sạn Newday và các khu dịch vụ du lịch tổng hợp. Hiện tại, công ty đang tiếp tục đầu tư xây dựng để từng bước hình thành khu trung tâm vui chơi giải trí gắn với tham quan các di tích lịch sử văn hóa Hàm Rồng, với tổng số vốn đầu tư lên tới 65 tỷ đồng, trong đó vốn tự có 35 tỷ đồng, vốn Nhà nước 30 tỷ đồng. Tuy chưa hoàn thiện, nhưng KDLVH Hàm Rồng đã và đang thu hút du khách gần xa tham quan. Hiện tại, ngoài hai nhà đầu tư đã đầu tư xây dựng Đảo hồ Kim Quy và Nhà hàng Newday, cũng đã có 9 nhà đầu tư thứ cấp khác tiếp nhận dự án, xây dựng các công trình quanh hồ như nhà dưỡng sinh cộng đồng, bể bơi, công viên nước, nhà nghỉ nhà sàn, nhà nghỉ biệt thự, hồ nuôi cá sấu và sân thể dục thể thao.
   8. Tua Sầm Sơn - Đền Sòng
6h00: Quý khách lên xe tham quan cụm di tích Đền Sòng – Đèo Ba Dội - Đền Chín giếng thị xã Bỉm Sơn. Cách Sầm Sơn 40 km về phía Bắc, đến Bỉm Sơn, quý khách vãn cảnh đền Sòng Sơn - Thánh đường thờ Nữ thần Vân Hương - Liễu Hạnh Công chúa - Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
          Chính ở Đền Sòng trong một lần trùng tu vào tháng 4 - 1939 khi thợ đào đất để xây dựng bức bình phong trước cửa chính, họ đã tìm thấy một cái tráp bằng đồng hình chữ nhật. Mở cái tráp ấy ra, họ rất ngạc nhiên khi thấy trong đó, một cuốn sách có nhiều tờ bằng đồng ghi niên hiệu Vĩnh Tộ (1619 - 1628) đời Lê Thần Tông và chép lại lịch sử gia đình Nữ thần Vân Hương.
Theo H. Breton thì : “Ngôi đền Sòng còn gọi là Đền Sùng Sơn, Đền này dựng vào thời Cảnh Hưng triều Lê Hiến Tôn (1740-1786) ngay tại nơi Chúa Liễu Hạnh tái hiện xuống trần”. (Revue Indochinos – 3/1922).Cạnh đền có một chếc cầu bằng đá do bà Hoàng thái hậu đời Lê xây dựng từ năm thứ 33 đời vua Lê Cảnh Hưng (1772). Cầu bắc qua một con suối trong veo chảy qua đền, làm cho cảnh trí càng thêm ngoạn mục.
Theo truyền thuyết kể rằng: Một hôm có một lão già người làng Cổ Đam, sau khi được Nữ chúa Vân Hương nhập hồn và tuân theo lời khuyên của bà, ông lão lấy một chiếc gậy tre đem cắm xuống đất và truyền làm một ngôi đền thờ ở đó. Chiếc gậy được cắm xuống đất đột nhiên bén rễ và đâm chồi. Trước hiện tượng “màu nhiệm” này, dân làng bèn dựng ngay một ngôi đền theo mộng báo của Nữ chúa. Lúc đầu Ngôi đền bé nhỏ, nhưng ngày càng được mở rộng thêm. Sau nhiều lần trùng tu, Đền Sòng càng khang trang, đẹp đẽ như ngày nay./.
 
 
 
   Bãi tắm B thị xã Sầm Sơn
 
 
 
THỊ XÃ SẦM SƠN – TRÊN CON ĐƯỜNG
HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN
 
 
     Bản đồ quy hoạch mở rộng không gian thị xã Sầm Sơn
 
Mô hình tổng thể thị xã Sầm Sơn
 
 
Công trìnhTrung tâm tài chính – ngân hàng - dịch vụ thương mại      
 thị xã Sầm Sơn
 
 
SẦM SƠN VỮNG BƯỚC ĐI LÊN XÂY DỰNG THỊ XÃ
THÀNH ĐÔ THỊ DU LỊCH BIỂN VĂN MINH, HIỆN ĐẠI,
GIÀU ĐẸP VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
     
                                                                               Đ/c Vũ Đình Quế
                                                    Phó Bí thư - Chủ tịch UBND thị xã Sầm Sơn
 
Thị xã Sầm Sơn là địa bàn ven biển, nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Thanh Hóa, đất không rộng (1.790 ha), người không đông (gần 60.000 người) nhưng được thiên nhiên ban tặng nhiều tài nguyên, danh lam, thắng cảnh đẹp, quyến rũ, khí hậu trong lành. Sầm Sơn còn là vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời, giàu bản sắc văn hóa, mang đậm chất dân tộc Việt, nhân dân Sầm Sơn từ bao đời nay đã có tinh thần yêu nước, yêu vùng biển quê hương, cần cù, chịu khó, đoàn kết, chung sức, chung lòng trong lao động, sản xuất và trong đấu tranh chống thiên tai, địch họa. Các yếu tố đó đã tạo nên các điều kiện cơ bản để hình thành, phát triển vùng du lịch, nghỉ mát lý tưởng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn.
Xuất phát từ những điều kiện thực tế của địa phương, phát huy những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội đạt được của thị xã qua 30 năm xây dựng, trưởng thành (1981–2011), nhất là những thành tích đạt được của giai đoạn 2005 – 2010; Đại hội Đảng bộ thị xã Sầm Sơn lần thứ XV, nhiệm kỳ 2010 – 2015 đã đề ra mục tiêu, phương hướng phát triển thị xã trong những năm tiếp theo đó là:
Phát huy có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh đô thị du lịch biển, tăng cường nội lực và thu hút các nguồn lực đầu tư nhằm đầu tư, cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội. Phấn đấu đến năm 2015 Sầm Sơn trở thành đô thị loại III. Phát triển nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, trong đó chú trọng phát triển 2 ngành kinh tế có thế mạnh là dịch vụ du lịch và nghề cá. Với tinh thần cách mạng tiến công, mục tiêu giai đoạn 2010 – 2015, Sầm Sơn phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt từ 18% trở lên. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng: tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, giảm tỷ trọng Ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp. GDP đầu người đến năm 2015 đạt 2.200 USD. Tập trung nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa – xã hội, nâng cao mức sống nhân dân. Giữ vững quốc phòng – an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh, đảm bảo kỷ cương, tập hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Sầm Sơn thực sự trở thành một trong những khu vực động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa, một đô thị du lịch biển văn minh, giàu đẹp và hiện đại. Chung sức cùng cán bộ, nhân dân cả tỉnh xây dựng tỉnh Thanh Hóa đến năm 2015 có mức thu nhập bình quân dầu người bằng mức thu nhập bình quân chung của cả nước và đến năm 2020 trở thành Tỉnh tiên tiến mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2010 –2015 đã đề ra.
Lễ công bố quy hoạch chi tiết dự án khu đô thị ven sông Đơ
            Du lịch được xác định là ngành kinh tế chủ đạo, có tiềm năng và lợi thế phát triển nhất của Sầm Sơn. Vì vậy, từ nay đến năm 2020 thị xã tập trung phát triển nhanh và bền vững ngành du lịch gắn kết chặt chẽ với các điểm du lịch lớn trong tỉnh và cả nước, sớm đưa Sầm Sơn thực sự trở thành đô thị du lịch biển hiện đại của khu vực và cả nước.Tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư đủ năng lực đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn. Hình thành một số khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp và khu vui chơi giải trí tổng hợp, hiện đại có tầm quốc gia và quốc tế như: Khu du lịch sinh thái xã Quảng Cư, Khu du lịch sinh thái ven Sông Đơ, Khu du lịch sinh thái – văn hóa Núi Trường Lệ, Khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp Nam Sầm Sơn...
Mô hình công viên cây xanh (Dự án du lịch sinh thái Sông Đơ)
Tăng cường tổ chức các tuyến, tua du lịch kết nối Sầm Sơn với các khu du lịch, các địa điểm di tích, danh lam, thắng cảnh trong và ngoài tỉnh như Hàm Rồng, Lam Kinh, Thành Nhà Hồ, Bến En, suối cá Cẩm Lương, hồ Cửa Đặt, Cửa Lò, Kim Liên (Nghệ An), Bích Động, Tràng An, Bái Đính (Ninh Bình)… và một số tuyến du lịch quốc tế đến các điểm du lịch nổi tiếng ở Bắc Lào, Đông Bắc Thái Lan.
Bên cạnh đó, do xác định rõ vai trò quyết định của yếu tố nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhất là kinh tế du lịch, trong những năm tiếp theo thị xã tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển nhanh nguồn nhân lực du lịch nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, từng bước xây dựng một lực lượng lao động du lịch ở Sầm Sơn có chuyên môn, nghiệp vụ và tính chuyên nghiệp cao trong đó chú trọng đào tạo về nghiệp vụ du lịch du lịch, về ngoại ngữ, kiến thức lịch sử văn hóa, phong cách giao tiếp, ứng xử… đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của một đô thị du lịch hiện đại.
            Để khai thác tối đa lợi thế phát triển các ngành kinh tế của Sầm Sơn, nhất là kinh tế du lịch, trong giai đoạn tiếp theo Sầm Sơn tập trung phát triển các ngành dịch vụ theo hướng hiện đại, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ và các thành phần kinh tế tham gia, không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ truyền thống, khuyến khích phát triển các ngành dịch vụ mới để kích thích sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân, ưu tiên các ngành dịch vụ có giá trị tăng cao như tài chính, ngân hàng, dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông…; Phát triển đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống thương mại trên địa bàn, kết hợp đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thương mại chất lượng cao với hệ thống các trung tâm thương mại, các siêu thị, các chợ và các của hàng, cửa hiệu như trung tâm thương mại Bắc Sơn (phường Bắc Sơn), Trung tâm tài chính – thương mại hiện đại theo chuẩn quốc tế (ở nút giao giữa đại lộ Nam sông Mã với đường Lê Thánh Tông), Trung tâm đầu mối hải sản (quy mô cấp vùng) tại Quảng Tiến… Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, nhất là hàng thủy sản và thủ công mỹ nghệ sang các thị trường đã có và các thị trường mới như Nhật Bản, EU. Sớm xây dựng Sầm Sơn trở thành một trong những điểm hội tụ hàng hóa chính của tỉnh, là trung tâm giới thiệu sản phẩm của Thanh Hóa. Đạt tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ là 20,4%/năm.
Sầm Sơn nằm gần các ngư trường khai thác chính ở phía Bắc Vịnh bắc Bộ, đồng thời có Cảng Hới là một trong những cảng cá lớn của vùng Bắc Trung Bộ và cả nước. Vì vậy, cùng với ngành du lịch, thủy sản cũng là ngành sản xuất chính và là ngành sản xuất truyền thống, có ưu thế của thị xã, từ lâu thủy sản Sầm Sơn đã nổi tiếng thơm, ngon trong cả nước. Phát huy ưu thế này, từ nay đến năm 2020 thị xã tập trung hiện đại hóa ngành thủy sản trên tất cả các lĩnh vực, bố trí các phương tiện và cơ cấu ngành nghề hợp lý, phù hợp với ngư trường, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề theo hướng giảm tàu có công suất bé, tăng tàu công suất lớn (140 CV đến 400 CV), mở rộng khai thác xa bờ xuống ngư trường phía Nam và ngư trường biển Đông giáp quần đảo Hoàng Sa nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kết hợp bảo vệ quốc phòng an ninh. Phấn đấu đến năm 2020 sản lượng khai thác hải sản của Sầm Sơn đạt khoảng 24.000 tấn, trong đó sản lượng khai thác xa bờ chiếm hơn 70%.
Bên cạnh các ngành kinh tế mũi nhọn là dịch vụ - du lịch và khai thác, nuôi trồng thủy sản, nhằm khai thác tối đa về nguồn nhân lực và nguồn nhiên liệu, nhất là nguồn lợi hải sản, thị xã cũng rất chú trọng phát triển ngành công nghiệp – TTCN gắn với quá trình đô thị hóa và cải thiện môi trường sinh thái nhằm tạo việc làm, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Phấn đấu giai đoạn 2010 – 2020 tốc độ tăng trưởng GTGT CN–TTCN đạt 13,6%. Tập trung phát triển công nghiệp chế biến hải sản, nhất là các ngành nghề chế biến truyền thống như: Nước mắm đặc sản Quảng Tiến, mực, tôm, cá khô, đông lạnh… phục vụ xuất khẩu và du lịch với quy mô lớn và công nghệ tiên tiến. Đầu tư nâng cấp, xây dựng mới các cơ sở đóng, sửa chữa tàu, thuyền nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành khai thác hải sản và du lịch trên địa bàn. Khôi phục và phát triển các nghề, làng nghề truyền thống ở địa phương, khuyến khích phát triển các làng nghề mới gắn kết với nhau tạo thành quần thể “Làng nghề du lịch”. Trước mắt đẩy mạnh việc khôi phục các Làng nghề dệt Săm súc ở xã Quảng Cư, chế biến hải sản ở Quảng Tiến; Tiếp tục du nhập, nhân rộng và phát triển các nghề mới như: Sản xuất mây, tre đan, mỹ thuật từ dừa, thêu tranh nghệ thuật, sản xuất đồ mỹ nghệ từ vỏ ốc, vỏ sò và sinh vật biển tận thu… phục vụ phát triển du lịch và xuất khẩu.
Mô hình phát triển giao thông tại Sầm Sơn
          Trong những năm tới, quá trình đô thị hóa ở sầm Sơn sẽ diễn ra nhanh chóng, cùng với sự phát triển của các ngành dịch vụ, du lịch… quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp sẽ giảm mạnh dự kiến đến năm 2020 chỉ còn khoảng 75ha. Vì vậy, sản xuất Nông – Lâm nghiệp ở Sầm Sơn sẽ phát triển theo hướng nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái, chuyển đổi mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hình thành một số sản phẩm hàng hóa có khối lượng lớn, chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu du lịch trên địa bàn như: Rau, đậu, hoa, cây cảnh.... Đối với lâm nghiệp, thị xã tập trung phát triển lâm nghiệp theo hướng đảm bảo chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường, tạo cảnh quan đô thị xanh, sạch, đẹp và tham gia phát triển du lịch. Tiếp tục đầu tư bảo vệ nghiêm ngặt rừng đặc dụng trên núi Trường Lệ và rừng phòng hộ ven biển, ven lạch Hới. Quy hoạch phát triển trồng cây xanh dọc Sông Đơ, dọc các bãi tắm, trên các đường phố, trong các khu du lịch, các khu đô thị, khu dân cư… Đến năm 2020, ổn định diện tích rừng trên địa bàn khoảng 180 – 200ha, góp phần làm cho Sầm Sơn ngày càng xanh, sạch và đẹp hơn.
            Nhằm tạo điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế - xã hội của thị xã với tốc độ nhanh, thị xã đặc biệt quan tâm phát triển kết cấu hạ tầng như phát triển mạng lưới cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý chất thải, hạ tầng bưu chính - viễn thông… Nhất là quan tâm phát triển đồng bộ và hiện đại hóa hệ thống giao thông trên địa bàn đảm bảo tính liên hoàn, liên kết trong toàn thị xã và giữa thị xã Sầm Sơn với các địa phương khác. Từ nay đến năm 2015, triển khai nâng cấp và xây dựng mới các trục giao thông chính là Đại Lộ Nam Sông Mã, dự kiến hoàn thành vào năm 2012. Quốc lộ 47 (cửa ngõ chính của thị xã Sầm Sơn), mở rộng mặt đường từ 4 – 6 làn xe; Tuyến đường nối khu Nam Sầm Sơn với thành phố Thanh Hóa; Tuyến đường Trần Hưng Đạo, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, đường Hồ Xuân Hương kéo dài; các đường nhánh xuống biển…; Sau năm 2015 đầu tư xây dựng tuyến đường duyên hải (kéo dài đường Trần Hưng Đạo qua Nga Sơn, Hậu Lộc và đến khu kinh tế Nghi Sơn).
            Song song với quá trình đầu tư, phát triển các ngành kinh tế chủ đạo, thị xã cũng rất chú trọng phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng bền vững; Mục tiêu đề ra là phấn đấu giảm tỷ lệ phát triển dân số xuống còn 0,95% năm 2015 và 0,9% vào năm 2020. Mỗi năm giải quyết việc làm cho hơn 1.500 lao động, nâng tỷ lệ lao động được đào tạo nghề lên 65% vào năm 2015. Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 4% năm 2015 và dưới 2% vào năm 2020. Coi giáo dục, đào tạo là sự nghiệp của toàn dân và đặt thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để nâng cao dân trí và xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cao nhất là nguồn nhân lực cho kinh tế du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển của thị xã trong giai đoạn tới. Phấn đấu đến năm 2020, 100% số trường trên địa bàn đạt chuẩn quốc gia, giữ vững thành tích phổ cập THCS và đạt phổ cập THPT trước năm 2020. Chăm lo phát triển sự nghiệp y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng theo hướng dự phòng tích cực và chủ động lấy phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu làm mục tiêu phấn đấu, không để dịch bệnh phát sinh và lây lan trên địa bàn đặc biệt là trong mùa du lịch. Tập trung xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở theo hướng kết hợp văn hóa hiện đại với khôi phục và phát triển những nét văn hóa truyền thống. Tăng cường cơ sở vật chất, hệ thống các thiết chế văn hóa đáp ứng nhu cầu hoạt động văn hóa thông tin, TDTT trên địa bàn. Quan tâm bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử. Tiếp tục thực hiện tốt Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và Nghị quyết số 04 của Ban chấp hành Đảng bộ thị xã khóa XIV về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng một số lĩnh vực văn hóa trên địa bàn thị xã Sầm Sơn. Từ nay đến năm 2020 thị xã dự kiến xây dựng Quảng trường lớn ở trung tâm để phục vụ các lễ hội; Xây dựng quần thể văn hóa thể thao ( Nút giao đường Lý Tự trọng và Lê Lợi ).
Mô hình khu nhà liền kề ( Dự án khu đô thị ven sông Đơ )
Cùng với công tác chăm lo phát triển các sự nghiệp kinh tế - xã hội, để chủ động phòng ngừa và đấu tranh với các thủ đoạn của các thế lực thù địch và các loại tội phạm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi truờng xã hội ổn định phục vụ công cuộc phát triển kinhh tế - xã hội. Cấp ủy, Chính quyền địa phương luôn quan tâm đến công tác củng cố quốc phòng – an ninh với phương trâm gắn phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng – an ninh. Hoàn thành tốt các nhiệm vụ quân sự tại địa phương. Tập trung đấu tranh giải quyết tốt tình trạng mất an ninh trật tự xã hội như: Nghiện hút, buôn bán ma túy, mại dâm, trộm cắp, số đề… Chủ động nắm tình hình, ngăn chặn có hiệu quả các loại tội phạm, không để xảy ra các vụ án nghiêm trọng, các tội phạm có tổ chức giữ được sự an toàn và bình yên cho nhân dân và du khách khi đến thăm quan, du lịch, nghỉ dưỡng tại thị xã Sầm Sơn.
           Thị xã Sầm Sơn là một trong những đô thị du lịch biển trọng điểm của cả nước, có nhiều tiềm năng phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, sản phẩm du lịch. Để đáp ứng yêu cầu phát triển lâu dài của thị xã, cần thiết phải mở rộng không gian thị xã, kết hợp với tổ chức hợp lý không gian đô thị; Dự kiến trong tương lai thị xã có thể mở rộng không gian về phía tây, thêm 6 xã thuộc huyện Quảng Xương (gồm: Quảng Châu; Quảng Thọ; Quảng Vinh; Quảng Minh; Quảng Hùng và Quảng Đại), với tổng diện tích là 22,1km2, nâng diện tích tự nhiên của Sầm Sơn lên 45km2, gấp 2,5 lần diện tích hiện nay. Cùng với việc mở rộng không gian, thị xã sẽ tiến hành tổ chức các phân khu chức năng phù hợp với một đô thị mới, hiện đại. Trong đó, lấy núi Trường Lệ làm vùng cảnh quan chính để kiến tạo đô thị; Lấy khu vực ven biển và dọc Sông Đơ làm các trục phát triển chính, tạo không gian thoáng đẹp, hòa nhập với thiên nhiên. Dự kiến xây dựng mới khu Trung tâm hành chính của thị xã ra ngoài khu vực nội thị hiện nay lên phía tây sông Đơ. Hình thành mới các trung tâm khu vực như: Trung tâm khu vực Bắc Sầm Sơn (dự kiến tại ngã ba cuối Đại lộ Nam sông Mã); Trung tâm khu vực Nam Sầm Sơn (Tại ngã tư cuối đường vành đai 3 liên đô thị Thanh Hóa - Sầm Sơn); Trung tâm khu vực Đông Sầm Sơn (Tại 3 phường Trường Sơn, Bắc Sơn, Trung Sơn). Đồng thời quy hoạch sắp xếp lại các khu du lịch hiện có theo hướng hiện đại, đạt tiêu chuẩn Quốc tế, từng bước di dời các cơ quan hành chính và các hộ dân ra ngoài khu vực để dành đất cho phát triển du lịch, tạo cảnh quan đẹp cho khu vực du lịch. Xây dựng mới một số bãi tắm, khu du lịch chất lượng cao.
Sau 30 năm, kể từ ngày được thành lập (1981 – 2011), thị xã Sầm Sơn đang ngày một đổi mới, phát triển đi lên, đáng tự hào. Tuy đã đạt được nhiều thành tích đáng kể trên các mặt, nhưng Thị xã vẫn còn những bộn bề, những khó khăn, những tồn tại, yếu kém phải trăn trở. Nhưng với tiềm năng, lợi thế của đô thị ven biển; với truyền thống cách mạng anh dũng, kiên cường, bất khuất của một đơn vị Anh hùng; với các giải pháp đúng đắn, đồng bộ; với sự ủng hộ, giúp đỡ, tạo điều kiện của các ngành, các cấp và sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, kiên quyết của cấp ủy, chính quyền địa phương quyết tâm đưa Sầm Sơn phát triển tăng tốc, bền vững. Chúng ta tin tưởng rằng trong tương lai không xa, Thị xã Sầm Sơn sẽ có một diện mạo mới, sẽ trở thành một đô thị du lịch biển trọng điểm, giàu đẹp, hiện đại tầm cỡ quốc gia và quốc tế, là điểm hẹn, điểm đến ấn tượng, lý tưởng của du khách trong và ngoài nước./.