Đánh giá của bạn về cổng thông tin điện tử
123 người đã bình chọn
576 người đang online

TỔNG QUAN VỀ SẦM SƠN

100%

I - CÁC YẾU TỐ VÀ NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN
Thị xã Sầm Sơn nằm ở phía Đông tỉnh Thanh Hoá, cách Thành phố Thanh Hoá khoảng 16 km; phía Bắc giáp huyện Hoàng Hoá (ranh giới là sông Mã); phía Nam và phía Tây giáp huyện Quảng Xương (cách sông Đơ); phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ. Thị xã Sầm Sơn có 5 đơn vị hành chính, gồm 04 phường và 01 xã với tổng diện tích tự nhiên gần 17,9 km2, dân số năm 2010 là 62.550 người, chiếm 0,16% diện tích và 1,68% dân số tỉnh Thanh Hoá.
Về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của Sầm Sơn có những điểm nổi bật sau:
1. Đặc điểm tự nhiên
1.1. Đặc điểm địa hình
Địa hình ở Sầm Sơn chia thành 4 vùng rõ rệt.
* Vùng triều ngập mặn: gồm vùng đất trũng bên bờ sông Đơ trải dọc từ cống Trường Lệ đến sông Mã và vùng triều ngập mặn Quảng Cư. Đây là vùng đất trũng, cốt trung bình từ 0,5 - 1,5 mét. Từ khi đắp đập Trường Lệ vùng đất trũng bên bờ sông Đơ đang được ngọt hoá dần. Hiện nay vùng này đang trồng lúa năng suất thấp, nuôi trồng hải sản, trồng sen...
* Vùng cồn cát cao: gồm khu vực nội thị, trải dài từ chân núi Trường Lệ đến bờ Nam Sông Mã. Địa hình ở đây tương đối bằng phẳng, dốc thoải từ Đông sang Tây khoảng 1,5 - 2%, cốt trung bình từ 2,5 - 4,5 mét, thuận lợi cho việc xây dựng khách sạn, nhà nghỉ, trung tâm hành chính và các khu dân cư, diện tích khoảng 700 ha.
* Vùng ven biển: gồm khu vực phía Đông đường Hồ Xuân Hương từ chân đền Độc Cước (phường Trường Sơn) kéo dài đến hết địa phận xã Quảng Cư. Đây là dải cát mịn, thoải, dốc dần ra biển phù hợp với yêu cầu của bãi tắm (độ dốc từ 2 - 5%), diện tích khoảng 150 ha, rộng 200 mét.
Vùng núi. Bao gồm toàn bộ núi Trường Lệ, nằm sát biển, độ cao trung bình khoảng 50 mét, đỉnh cao nhất đạt 76 mét, có các vách đá dốc đứng về phía biển tạo nên sự hùng vĩ của núi Trường Lệ, rất thích hợp cho các loại hình du lịch leo núi, du lịch mạo hiểm. Ngoài ra ở đây còn có những bãi cỏ rộng và những sườn thoải phù hợp cho du lịch cắm trại, vui chơi giải trí...
Nền địa chất của Sầm Sơn khá tốt, cường độ chịu tải của đất cao, đạt từ 1 - 2 kg/cm2, riêng khu vực gần núi Trường Lệ đạt trên 2 kg/cm2, rất tốt cho xây dựng các công trình.
1.2. Đặc điểm khí hậu
Thị xã Sầm Sơn nằm trong miền khí hậu Bắc Việt Nam, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt là mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa.
 Chế độ nhiệt: Sầm Sơn có chế độ nhiệt tương đối cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng 23oC. Nhiệt độ trung bình mùa hè (tháng 5 - 9) là 25oC, tháng nóng nhất nhiệt độ lên đến 40oC; nhiệt độ trung bình mùa đông (từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau) là 200C, tháng lạnh nhất có thể xuống đến 5oC. Tổng tích ôn cả nămkhoảng 8.6000C; số giờ nắng cao, trung bình 1700 giờ/năm. Tháng có số giờ nắng cao nhất (tháng 7) là 225 giờ, tháng có số giờ nắng thấp nhất (tháng 2) là 46 giờ.
Chế độ gió: Sầm Sơn chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam. Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau), bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc mang theo không khí lạnh, làm nhiệt độ giảm xuống từ 5 - 10oC so với nhiệt độ trung bình năm. Về mùa hè (từ tháng 3 - 11) gió thịnh hành là Đông Nam mang theo hơi nước gây mưa nhiều. Riêng đầu mùa hè thường xuất hiện gió Tây khô nóng (gió Lào) ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân.
Chế độ mưa: Lượng mưa ở Sầm Sơn khá lớn, trung bình năm từ 1600 - 1900 mm, nhưng phân bố rất không đều giữa hai mùa. Mùa khô (từ tháng 12 - 4 năm sau) lượng mưa rất ít, chỉ chiếm 15% lượng mưa cả năm, ngược lại mùa mưa (từ tháng 5 - 11) tập trung tới 85% lượng mưa cả năm. Mưa nhiều nhất vào tháng 8, lượng mưa có năm lên tới gần 900 mm. Ngoài ra trong mùa này thường có giông, bão kèm theo mưa lớn gây úng lụt cục bộ.
Chế độ thủy triều: Thủy triều ở khu vực Sầm Sơn có chế độ nhật triều đều. Về mùa hè thủy triều lên lúc 7 giờ và xuống lúc 14 - 16 giờ chiều; mùa đông thì ngược lại xuống lúc 6 - 9 giờ là lên lúc 14 - 16 giờ. Biên độ triều trung bình khoảng 1,2 - 1,6 mét, cao nhất đạt 2 - 2,5 mét. Chế độ thủy triều như vậy rất thích hợp cho các hoạt động du lịch tắm biển.
Tóm lại, khí hậu ở Sầm Sơn tuy có sự phân chia rõ rệt theo mùa, nhưng do có tác động điều hòa của biển nên khí hậu tương đối dễ chịu, mát vào mùa hè, ít lạnh vào mùa đông, khá phù hợp cho tắm biển, thăm quan, nghỉ dưỡng và phù hợp cho sự sinh trưởng của nhiều loại cây trồng, vật nuôi.
2. Các tài nguyên thiên nhiên chính
2.1. Tài nguyên du lịch là ưu thế nổi trội nhất của Sầm Sơn
 Sầm Sơn có tiềm năng du lịch rất phong phú, đa dạng, gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Đây là ưu thế nổi bật nhất của Sầm Sơn, là điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như du lịch biển, du lịch núi, du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch sinh thái, du lịch tâm linh…
* Về tài nguyên du lịch tự nhiên: Sầm Sơn có bờ biển dài khoảng 9 km, từ cửa Hới (sông Mã) đến Vụng Tiên (Vụng Ngọc) với các bãi biển đẹp như bãi biển nội thị (A, B, C, D), bãi biển Quảng Cư, Bãi Nix, Bãi Lãn, Bãi Vụng Tiên... Các bãi biển này đều có đặc điểm chung là rộng, bằng phẳng, độ dốc thoải, bãi cát trắng mịn, sóng biển vừa phải, nước biển ấm, trong xanh có nồng độ muối trên dưới 30%, ngoài ra còn có Canxidium và nhiều khoáng chất khác có tác dụng chữa bệnh... rất phù hợp cho tắm biển và các hoạt động vui chơi giải trí nên từ lâu đã là khu nghỉ mát nổi tiếng trong cả nước. Theo đánh giá Sầm Sơn là nơi rất có lợi cho sức khỏe, nghỉ dưỡng vào mùa đông, đồng thời là thị trường tiêu dùng, mua sắm lớn cho 1,5 - 2 triệu khách du lịch hiện nay và khoảng 4 - 5 triệu du khách trong tương lai, tạo cơ sở để phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hóa và các mặt hàng TTCN của các vùng lân cận. Hiện nay Sầm Sơn mới khai thác 3 bãi biển ở khu vực nội thị vào mục đích du lịch, chủ yếu là tắm biển. Thời gian tới có thể khai thác các bãi biển ở khu vực Quảng Cư và Nam Sầm Sơn, hình thành một khu du lịch - nghỉ dưỡng biển lớn của vùng và cả nước với các hoạt động du lịch phong phú và đa dạng như: tắm biển, nghỉ dưỡng và các loại hình thể thao, vui chơi giải trí khác...
Bên cạnh các bãi biển trên, Sầm Sơn còn có núi Trường Lệ cao 76 mét nằm sát biển, được coi như là hòn ngọc của Sầm Sơn. Các vách đá dốc đứng về phía biển đã tạo nên sự hùng vĩ của núi Trường Lệ và rất thích hợp cho loại hình du lịch leo núi, du lịch mạo hiểm. Mặt khác ở đây có những bãi cỏ rộng, những sườn thoải và các đồi được cấu tạo từ đá granit cổ sinh hay đá biến chất dạng bát úp (điển hình là khối hoa cương Độc Cước) phù hợp cho du lịch cắm trại và các hoạt động vui chơi giải trí khác. Trên núi Trường Lệ còn có các di tích như đền Độc Cước, đền Cô Tiên, đền Tô Hiến Thành... rất có giá trị du lịch văn hóa, du lịch tâm linh. Đặc biệt hòn Trống Mái trên núi Trường Lệ là cảnh quan tự nhiên độc đáo của Sầm Sơn cũng như của cả nước, rất hấp dẫn khách du lịch.
Ngoài ra, cảnh quan tự nhiên dọc hai bờ sông Mã, sông Đơ cũng là điều kiện lý tưởng để Sầm Sơn phát triển các tuyến du lịch sinh thái trên sông, biển. Xuất phát từ Cửa Hới ở phía Bắc, du khách có thể đi thuyền đến Hòn Mê và xa hơn về phía Nam, hoặc ngược dòng sông Mã đi thăm các di tích Hàm Rồng, Lam Sơn, di tích triều vua Lê và các di tích, danh thắng khác trong tỉnh. Đặc biệt sông Đơ chảy dọc thị xã (từ Sông Mã ở phía Bắc đến cống Trường Lệ ở phía Nam) có cảnh quan tự nhiên khá hấp dẫn với các đầm sen ở phía Nam đền An Dương Vương là nguồn tài nguyên du lịch tiềm năng của Sầm Sơn để phát triển du lịch sinh thái.
Tóm lại, sự đan xen giữa các loại địa hình (sông, núi, biển), giữa các bãi biển với núi Trường Lệ và cảnh quan sông nước, cùng với các hồ, đầm ở Quảng Cư và những rặng thông, phi lao dọc ven biển... tạo nên sự phóng phú và đa dạng của tài nguyên du lịch trên địa bàn, là điều kiện rất thuận lợi để Sầm Sơn phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn.
* Về tài nguyên du lịch nhân văn: Bên cạnh những tài nguyên du lịch tự nhiên, Sầm Sơn còn có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn khá phong phú gồm các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, ngành nghề truyền thống và các giá trị văn hóa khác. Theo thống kê, trên địa bàn Sầm Sơn có 16 di tích, là một trong số các địa phương có tỷ lệ di tích cao trong cả nước, trong đó có 6 di tích cấp Quốc gia gồm:
- Đền Độc Cước (hay còn gọi là đền Thượng), nằm trên hòn Cổ Giải thuộc dãy núi Trường Lệ. Đền thờ thần Độc Cước, được xây dựng cách đây 700 năm. Hàng năm người dân Sầm Sơn tổ chức lễ hội bánh trưng, bánh dầy vào ngày 12 tháng 5 âm lịch để tế thần.
- Đền Cô Tiên, nằm trên hòn Đầu Voi ở phía Tây núi Trường Lệ, phía trên Vụng Ngọc. Đây là đền thờ Chúa Liễu Hạnh, trước đây là nơi thờ vọng thần Độc Cước.
- Đền Tô Hiến Thành (hay còn gọi là đền Trung), thờ Thái úy Tố Hiến Thành, vị quan thanh liêm, cương trực của triều Lý.
- Hòn Trống Mái là danh thắng nổi tiếng gắn với huyền thoại về một mối tình chung thủy.
- Đền Đề Lĩnh thuộc phường Trung Sơn, thờ thần Hoàng có công khai dân, lập ấp.
- Đền Cá Lập (hay còn gọi là đền Làng Trấp) thuộc phường Quảng Tiến, thờ tướng Trần Đức.
Ngoài ra còn 10 di tích được xếp hạng cấp tỉnh gồm: đền Hoàng Minh Tự (hay còn gọi là đền Hạ); chùa làng Lương Trung; đền Bà Triều; đền làng Hới; đền Thanh Khê; đền thờ phủ Đô Hầu; đền thờ Ngư Ông... và nhiều di tích khác như: Nơi Bác Hồ về thăm và tham gia kéo lưới cùng ngư dân Sầm Sơn; Nơi anh hùng Nguyễn thị Lợi đánh tàu chiến Pháp; Nơi tập kết đón học sinh Miền Nam ra Bắc sau Hiệp định Genever và nơi đón tiếp các tử tù Cách mạng Miền Nam ra Bắc sau Hiệp định Pari...
Như vậy, du khách đến Sầm Sơn không chỉ bởi cảnh đẹp thiên nhiên kỳ thú mà còn giầu chất nhân văn với những lễ hội được lưu giữ từ bao đời nay như lễ hội tế thần Đốc Cước, Cô Tiên, (từ ngày 21 - 23/8 âm lịch); Lễ hội bánh chưng bánh dày (ngày 12/5 âm lịch); lễ hội cầu ngư (ngày 15/5 âm lịch)... Ngoài những lễ hội truyền thống về lịch sử, về truyền thuyết còn có các lễ hội tôn vinh những người có công với dân, với nước, với làng hoặc lễ hội tưởng niệm Bà Triều, tổ sư nghề dệt săm súc, lễ hội Cá Ông... mang đậm nét sinh hoạt của cư dân vùng biển... làm cho du lịch của Sầm Sơn càng thêm phong phú và hấp dẫn. Bên cách đó, Sầm Sơn còn có truyền thống thượng võ (có lò vật nổi tiếng ở Quảng Trường - Trung Sơn); Các làng nghề truyền thống như dệt săm xúc (Triều Dương), sản xuất nước mắm (làng Hới) cùng với tinh thần mến khách và lòng nhiệt thành của con người Sầm Sơn cũng là nền tảng vững chắc cho ngành du lịch phát triển.
Tóm lại, Với những tiềm năng và lợi thế trên, trong tương lai ngành du lịch Sầm Sơn có cơ hội phát triển mạnh, trở thành điểm đến hấp dẫn và lý thú của nhiều du khách. Ngoài ra, với vị trí địa lý thuận lợi, Sầm sơn còn có thể mở rộng liên kết với các địa phương khác trong tỉnh, trong vùng và cả nước, hoặc với các tỉnh Bắc Lào để hình thành các tuyến du lịch hấp dẫn.
2.2. Tài nguyên thuỷ sản cũng là một lợi thế lớn
 Sầm Sơn có bờ biển dài 9 km từ Cửa Hới đến Vụng Tiên (Vụng Ngọc). Vùng biển, ven biển Sầm Sơn và phụ cận có nguồn lợi hải sản khá phong phú, đa dạng, tạo cho Sầm Sơn có lợi thế rất lớn về khai thác hải sản. Các ngư trường khai thác chính gồm:
- Bãi cá nổi ven bờ từ Nghệ An trở ra phía Bắc có trữ lượng khoảng 12.000 - 15.000 tấn, chủ yếu là cá lầm, cá trích (chiếm 40 - 50%); còn lại là cá nục, cá cơm, cá lẹp... Khả năng khai thác khoảng 6.000 - 7.000 tấn/năm.
- Bãi cá nổi vùng Lạch Hới - Đông Nam Hòn Mê có trữ lượng 15.000 - 20.000 tấn, chủ yếu là cá lầm, cá trích, cá nục (chiếm 60 - 70%), còn lại là cá thu, bạc má... Khả năng khai thác 7.000 - 10.000 tấn/năm.
- Các bãi cá đáy phía Nam đảo Hòn Mê đến Lạch Ghép và Lạch Hới - Đông Nam Hòn Mê.
 Vềtôm biển: Có hai bãi tôm chính là bãi tôm Hòn Nẹ - Lạch Ghép và bãi tôm Lạch Bạng - Lạch Quèn. Đây là các bãi tôm có trữ lượng cao trong khu vực Vịnh Bắc Bộ. Khả năng khai thác hàng năm khoảng 1.000 - 1.300 tấn, trong đó chủ yếu là tôm bộp, tôm sắt và hơn 7.000 tấn moi biển.
 Về mực: Vùng biển Thanh Hoá và phụ cận có nguồn lợi mực rất phong phú với trữ lượng 13.000 - 14.000 tấn; Khả năng khai thác hàng năm khoảng 5.000 - 6.000 tấn, trong đó có khoảng 3.000 - 4.000 tấn mực ống và 1.500 - 2.000 tấn mực nang.
 Ngoài ra, vùng biển và ven biển còn có nhiều loại hải đặc sản khác có giá trị kinh tế cao và rất được ưa chuộng trên thị trường trong và ngoài nước như ốc hương, sứa, tôm hùm, cua, ghẹ...
Về nuôi trồng thuỷ sản:Sầm Sơn có trên 158,7 ha mặt nước thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản, trong đó chủ yếu là ở Quảng Cư (138.7 ha) và một phần ở Quảng Tiến (20 ha). Toàn bộ diện tích này nằm trong đê sông Mã, đã hình thành các ao, đầm có thể nuôi trồng nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, ghẹ, rong câu...
2.3. Tài nguyên đất
Theo kết quả phúc tra thổ nhưỡng của FAO-UNESCO, thị xã Sầm Sơn có 4 nhóm đất chính phân bố như sau:
Nhóm đất cát biển (Arennosols): Đây là loại đất chính, có diện tích gần 1.000 ha, chiếm 55,9% diện tích tự nhiên thị xã. Nhóm đất này phân bố chủ yếu ở các phường Trung Sơn, Bắc Sơn và một phần Trường Sơn, thích hợp cho xây dựng các công trình phúc lợi, xây dựng nhà ở, hoạt động tắm biển và trồng cây lâm nghiệp...
Nhóm đất đỏ có tầng mỏng (Leptoso): diện tích 145 ha, phân bố ở khu vực núi Trường Lệ, thích hợp cho trồng cây lâm nghiệp.
Nhóm đất Glây (Gleysols): Diện tích trên 300 ha, phân bố chủ yếu ở phường Quảng Tiến, xã Quảng Cư và phía một phần phía Tây phường Trung Sơn. Đất có thành phần cơ giới cơ nhẹ, nghèo chất dinh dưỡng, khả năng giữ nước, giữ màu kém... nên năng suất cây trồng thấp. Hiện chủ yếu trồng lúa nước.
- Đất khác: Diện tích trên 300 ha, chủ yếu là diện tích đất ao hồ, mặt nước chuyên dùng.
 Về tình hình sử dụng đất: Theo báo cáo biến động đất ngày 24/6/2010 của UBND thị xã Sầm Sơn, đất đang sử dụng của Sầm Sơn (gồm cả sông suối, mặt nước chuyên dùng) là 1.686,12 ha, chiếm 94,3% diện tích tự nhiên. Trong đó, đất nông nghiệp là 782,2 ha, chiếm 43,7% và đất phi nông nghiệp là 903,9 ha, chiếm 50,5% diện tích tự nhiên toàn thị xã. Trong số đất nông nghiệp, đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp là 421,8 ha, chiếm 23,6%; đất sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp là 201,02 ha, chiếm 11,24% và mặt nước nuôi trồng thủy sản là 159,4 ha, chiếm 8,9% diện tích tự nhiên của thị xã.
Đất chưa sử dụng còn 102,7 ha, chiếm 5.7% diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là đất bằng (97,6 ha) phân bố ở khu vực ven sông Mã, sông Đơ. Thời gian tới cần có kế hoạch khai thác quỹ đất này vào phát triển sản xuất, nhất là cho du lịch và nuôi trồng thủy sản.
Biểu 01: Hiện trạng sử dụng đất của thị xã Sầm Sơn

 

Chỉ tiêu 
2005
2010
Tăng tuyệt đối
DT (ha)
%
DT (ha)
%
Tổng DT tự nhiên
1788.83
100.0
1788.83
100.0
0.0
1. Diện tích đã sử dụng
1685.07
94.2
1686.12
94.26
1.05
a) Đất nông nghiệp
833.42
46.59
782.24
43.73
-51.18
 - Đất SX nông nghiệp
466.25
26.06
421.81
23.58
-44.44
 - Đất SX lâm nghiệp
200.57
11.21
201.02
11.24
0.45
 - Mặt n­­ước nuôi trồng TS
166.6
9.31
159.41
8.91
-7.19
b) Đất phi nông nghiệp
851.65
47.6
903.88
50.53
52.23
 - Đất ở
369.33
20.6
378.68
21.17
9.35
 - Đất chuyên dùng
290.18
16.2
313.71
17.54
23.53
 - Đất phi NN khác
192.14
10.7
211.49
11.82
19.35
2. Diện tích ch­­ưa sử dụng
103.76
5.80
102.71
5.74
-1.05
 - Đất bằng ch­­ưa sử dụng
98.68
5.52
97.64
5.46
-1.04
 - Núi đá không có rừng
5.08
0.28
5.07
0.28
-0.01

 

Nguồn: Biến động đất theo mục đích sử dụng của UBND Tx.Sầm Sơn; ngày 24/6/2010.
Nhìn chung hầu hết diện tích đất bằng ở Sầm Sơn đã được khai thác sử dụng vào các mục đích khác nhau, tuy nhiên việc sử dụng đất hiện nay cũng còn nhiều bất cập, tỷ lệ đất nông nghiệp còn khá cao, tỷ lệ đất du lịch và dịch vụ tương đối thấp, nhất là đối với một đô thị du lịch. Vì vậy thời gian tới cần quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nhất là cho xây dựng đô thị và phát triển du lịch, dịch vụ để nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
2.4. Tài nguyên nước
* Về nước mặt: Trên địa bàn Sầm Sơn có 02 sông chính chảy qua là sông Mã và sông Đơ; tổng lưu lượng dòng chảy trung bình khoảng 14 tỷ m3/năm, trong đó lưu lượng dòng chảy chủ yếu là của sông Mã, còn sông Đơ chỉ là một nhánh nhỏ chảy dọc thị xã (từ sông Mã ở phía Bắc đến cống Trường Lệ ở phía Nam), có lưu lượng không đáng kể. Hiện nay việc khai thác nguồn nước mặt ở Sầm Sơn gặp nhiều khó khăn do nằm ở vùng cửa sông ven biển nước thường bị nhiễm mặn. Mặt khác nguồn nước phân bố không đều trong năm, mùa mưa (từ tháng 6 đến tháng 10) lưu lượng dòng chảy lớn, chiếm tới 78% tổng lượng nước cả năm, thường gây ngập úng; ngược lại vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 5) lưu lượng dòng chảy nhỏ, chỉ chiếm khoảng 22% nên thường gây hạn hán... ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân.
* Về nước ngầm: Nước ngầm tại khu vực Sầm Sơn khá phong phú nhưng chất lượng thấp. Mặt khác, thời gian qua do khai thác quá mức nên nguồn nước ngầm đang bị nhiễm mặn, đặc biệt các mạch sâu bị nhiễm mặn rất nặng, không thể sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất.
2.5. Tài nguyên rừng
Hiện tại thị xã Sầm Sơn có 201,02 ha rừng, trong đó hầu hết phân bố trên núi Trường Lệ và một phần rừng trồng ven biển. Rừng ở Sầm Sơn tuy không đem lại hiệu quả trực tiếp về kinh tế nhưng có giá trị rất lớn về bảo vệ môi trường sinh thái như chắn gió bão, ngăn mặn xâm thực vào đất liền... và tạo cảnh quan thiên nhiên phục vụ phát triển du lịch.
2.6. Tài nguyên khoáng sản
 Tài nguyên khoáng sản ở Sầm Sơn không nhiều cả về chủng loại và trữ lượng, chủ yếu là một số nguyên liệu để sản xuất vật liệu xây dựng như:
- Đá Granit ở núi Trường Lệ với trữ lượng vài triệu m3 chất lượng khá tốt, có thể sản xuất vật liệu xây dựng.
- Fenspat chứa trong các vỉa đá trên núi Trường Lệ, trữ lượng khoảng 17.000 tấn là nguyên liệu tốt để sản xuất men sứ.
- Quặng titan ở dải cát ven biển, trữ lượng 73.000 tấn có thể làm nguyên liệu để sản xuất que hàn.
Nhìn chung, các điểm khoáng sản này đều có trữ lượng nhỏ và phân bố ở những khu vực nhạy cảm, vì vậy cần quản lý‎ chặt chẽ, không cho khai thác nhằm bảo vệ môi trường, cảnh quan cho phát triển du lịch.
II - ĐẶC ĐIỂM DÂN SỐ VÀ NGUỒN NHÂN LỰC
1. Dân số
Năm 2009 tổng dân số của Sầm Sơn là 62.050 người (năm 2010 ước khoảng 62.550 người), chiếm gần 1,7% dân số toàn tỉnh Thanh Hóa. Mật độ dân số bình quân 3.496 người/km2, cao gấp 10 lần mức trung bình của tỉnh (khoảng 340 người/km2). Trong 5 năm trở lại đây, tốc độ tăng dân số của Sầm Sơn có xu hướng giảm dần từ 1,05% thời kỳ 2001 - 2005 xuống còn 0,92% thời kỳ 2006 - 2010, thấp hơn mức tăng dân số trung bình của tỉnh (1,01%). Nguyên nhân chính là do công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình được thực hiện thường xuyên và hiệu quả, mặt khác do có sự di chuyển của một bộ phận lao động của thị xã đi làm ăn, sinh sống ở các địa phương khác.
Về phân bố dân cư: Là một đô thị du lịch nên phần lớn dân cư của Sầm Sơn sinh sống ở 3 phường nội thị cũ (Bắc Sơn, Trung Sơn và Trường Sơn), chiếm trên 53% tổng dân số; cao hơn nhiều so với tỷ lệ dân số thành thị của tỉnh (9,8%) và cả nước (27%).
Về chất lượng dân số: Sầm Sơn có cơ cấu dân số tương đối trẻ; trình độ học vấn của dân cư khá cao. Đến nay Sầm Sơn đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS đúng độ tuổi (năm 2004); 45% trường đạt chuẩn quốc gia, 37% lực lượng lao động được đào tạo. Đây là nguồn nhân lực chủ yếu sẽ được huy động vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của thị xã trong những năm tới.
Biểu 02: Dân số và lao động thị xã Sầm Sơn đến năm 2010

 

 
 
 
 
Tăng BQ (%/n.)
Chỉ tiêu
2000
2005
2010
2001 - 2005
2006 - 2010
1. Quy mô DS  (người)
56.721
59.749
62.550
1.05
0.92
- DS Phi nông nghiệp
-
30.567
33.128
-
1,62
% so với tổng DS
-
51.2
54,0
-
-
- DS nông nghiệp
-
29.182
28.922
-
- 0,18
% so với tổng DS
-
48.8
46,0
-
-
2. DS trong độ tuổi LĐ
32.898
34.953
38.281
1,22
1,84
% so với tổng DS
58.0
58.5
61,2
-
-

 

Nguồn:Số liệu Thống kê của UBND thị xã Sầm Sơn.
2. Nguồn nhân lực       
Nguồn nhân lực của Sầm Sơn khá dồi dào. Năm 2010 dân số trong độ tuổi lao động có khoảng 38.280 người, chiếm 61,2% tổng dân số. Hiện nay số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 31.670 người, chiếm 82,7% lao động trong độ tuổi, trong đó phần lớn là lao động ở khu vực dịch vụ, chiếm trên 50% tổng số lao động xã hội.
Cơ cấu lao động cũng đã chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng lao động nông lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 44,3% năm 2000 xuống còn 31,2% năm 2009; lao động khu vực dịch vụ tăng nhanh từ 24,4% năm 2000 lên 59.3% năm 2009 (riêng lao động ngành du lịch chiếm 32%); lao động công nghiệp - xây dựng tăng từ 8% năm 2000 lên 9,5% năm 2009. Như vậy, chỉ trong 9 năm (từ 2000 - 2009) tỷ trọng lao động dịch vụ và công nghiệp đã tăng 13,1%. Đây là kết quả đáng khích lệ trong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn. Mặc dù số lao động làm việc trong lĩnh vực dịch vụ lớn nhưng do việc làm có tính thời vụ cao nên thời gian nhàn dỗi nhiều, ảnh hướng khá lớn đến thu nhập của người lao động.
Về chất lượng nguồn nhân lực: Những năm gần đây chất lượng lao động ở Sầm Sơn đã được cải thiện một bước, trình độ văn hoá của lực lượng lao động ngày được nâng cao. Tỷ lệ lao động chưa tốt nghiệp phổ thông giảm, số lao động tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông ngày càng tăng. Số lao động được đào tạo tăng đều qua các năm, từ 30% năm 2005 lên 40% năm 2010. Tuy nhiên hầu hết số lao động được đào tạo hiện đang làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp. Còn ở các cơ sở sản xuất kinh doanh phần lớn là lao động phổ thông, chất lượng thấp.
Biều 03: Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế

 

 
 Chỉ tiêu
2000
2005
2010
I
Số LĐ đang làm việc(người)
23.896
27.705
31.670
1
LĐ trong ngành NLN và TS
10.589
11.508
9.762
2
LĐ trong ngành CN - XD
1.912
2.554
3.071
3
LĐ trong ngành dịch vụ
11.395
13.643
18.837
 
    Tr.đó: LĐ du lịch
5.836
7.920
10.230
II
       Cơ cấu (%)
100
100
100
1
LĐ trong ngành NLN và TS
44.3
41.5
30.8
2
LĐ trong ngành CN - XD
8.0
9.2
9.7
3
LĐ trong ngành dịch vụ
47.7
49.2
59.5
 
    Tr.đó: LĐ du lịch
24.4
28.6
32.3

 

Nguồn: UBND thị xã Sầm Sơn
Tóm lại nguồn nhân lực của Sầm Sơn mặc dù đã được nâng cao đáng kể, song nhìn chung vẫn còn bất cập cả về số lượng và chất lượng; số lao động chưa được đào tạo còn chiếm tỷ lệ khá cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của Sầm Sơn với tốc độ nhanh trong thời gian tới.
3. Dự báo dân số và nguồn nhân lực đến năm 2020
Trên cơ sở những kết quả của công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe ban đầu đã đạt được thời gian qua, dự báotừ nay đến năm 2020 tốc độ tăng dân số tự nhiên của Sầm Sơn (trong phạm vi thị xã hiện nay) sẽ giảm dần xuống còn khoảng 0,85 %/năm giai đoạn 2011 - 2015 và 0,8 %/năm giai đoạn 2016 - 2020. Tuy nhiên, do Sầm Sơn là một đô thị du lịch đang phát triển nhanh nên tốc độ tăng dân số cơ học sẽ khá cao, dự báo khoảng 0,35 - 0,4 %/năm giai đoạn 2011 - 2015 và 1,0 - 1,2 %/năm giai đoạn 2016 - 2020. Như vậy, tốc độ tăng dân số chung của Sầm Sơn giai đoạn 2011 - 2020 sẽ đạt khoảng 1,6 %/năm, trong đó tốc độ tăng tự nhiên là 0,82 %/năm và tăng cơ học là 0,78 %/năm. Đến năm 2015 dân số của Sầm Sơn sẽ đạt 66.394 người và năm 2020 đạt khoảng 73.300 người.
Cùng với sự tăng dân số, nguồn nhân lực của Sầm Sơn cũng tăng nhanh, dự báo năm 2015 đạt 43.420 người và năm 2020 đạt khoảng 50.000 người, chiếm 68,2% tổng dân số của thị xã (chưa kể số lao động ở các địa phương khác đến làm việc theo thời vụ trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ). Đây là nguồn lực rất quan trọng đối với sự phát triển của Sầm Sơn trong tương lai, song cũng là một sức ép lớn đối với Sầm Sơn trong vấn đề tạo thêm việc làm mới cho số lao động tăng thêm và cả số lao động thời vụ hiện nay. Mặt khác để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ nhanh trong giai đoạn tới, nhất là phát triển du lịch, đòi hỏi phải có kế hoạch thật cụ thể để đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên địa bàn.
 
Biểu 04: Dự báo dân số, lao động của Sầm Sơn đến năm 2020
Đơn vị: người

 

Chỉ tiêu
2005
2010
2015
2020
1. Tổng dân số
59.749
62.550
66.394
73.306
 Tốc độ tăng DS(%/n.)
 1,05
0,92
1,2
2,0
Tr.đó: Tăng tự nhiên
1,05
0,92
0,85
0,8
 - DS phi nông nghiệp
30.591
38.969
48.136
61.724
% so với tổng DS
51,2
62,3
72,5
84,2
 - DS NL nghiệp & TS
29.158
23.581
18.258
11.582
% so với tổng DS
48,8
37,7
27,5
15,8
2. DS trong độ tuổi LĐ
34.953
38.593
43.422
49.995
% so với tổng DS
58,5
61,7
65,4
68,2